CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. Khái niệm về doanh nghiệp xây lắp Theo Quyết định số 1777/QĐ-NHQĐ-HS ngày 07/11/2006 của Tổng giám đốc Ngân hàng Quân đội về việc ban hành hướng dẫn thẩm định và quản lý cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp: Doanh nghiệp xây lắp là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thi công xây dựng công trình, bao gồm xây đựng và lắp đặt thiết bị đối với các công trinh xây dựng m ới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, ph ục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình. Căn cứ theo điều 3 Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014: Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao th ông, th uỷ lợi, năng lượng và các công trình khá c. Doanh nghiệp xây lắp (DNXL) là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký ngành nghề kinh doanh trong lĩnh vực thi công, xây lắp. Các Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp có trách nhiệm: - Đăng ký hoạt động xây dựng tại các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. 7 - Chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, bao gồm cả số lượng, chất lượng, tính chính xác của sản phẩm theo thời gian thực hiện hợp đồng, có quy định và hướng dẫn sử dụng công trình trước khi bàn giao công trình xây dựng, thực hiện bảo hành chất lượng sản phẩm xây dựng và công trình theo quy định.
- Thực hiện chế độ bảo hiểm công trình xây dựng, thực hiện an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình xây dựng. Thông tin rộng rãi về năng lực hoạt động của doanh nghiệp để Chủ đầu tư biết và lựa chọn. Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp So với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản (XDCB) có những đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành. Đặc điểm về sản phẩm xây lắp - Sản phẩm xây lắp là công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, được sản xuất tại một nơi cố định.
Các điều kiện sản xuất như vật liệu, lao động, máy thi công phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm công trình. Do đó, các DNXL phải tăng cường tính cơ động về mặt trang thiết bị, tài sản cố định sản xuất, lựa chọn loại hình tổ chức quản lý sản xuất linh hoạt. Đặc điểm này cho thấy hiệu quả kinh doanh của DNXL phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ chức quản lý sản xuất. - Sản phẩm xây lắp chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện thiên nhiên, khí hậu, địa chất, thủy văn do hoạt động xây lắp được tiến hành ngoài trời.
Các doanh nghiệp thường không thể lường trước được hết những khó khăn do tác động của thời tiết, khí hậu. Điều này làm giảm hiệu suất lao động, gián đoạn một số giai đoạn của quá trình sản xuất, ảnh hướng tới tiến độ thi công và chất lượng công trình. Do đó, các DNXL cần phải lập tiến độ thi công và tổ chức thi công hợp lý, phương án bảo quản và sử dụng nguyên vật liệu để 8 tránh bị tác động xấu của tự nhiên và đảm bảo quản lý hiệu quả chi phí. - Sản phẩm xây lắp đòi hỏi phải bỏ nhiều chi phí và thời gian thi công kéo dài khiến cho chu kỳ sản xuất của ngành XDCB có độ dài lớn hơn so với các ngành khác.
Đặc điểm này gây nên tình trạng ứ đọng vốn sản xuất trong khối luợng thi công của các doanh nghiệp xây lắp, chua kể đến những nguyên nhân khác liên quan đến thủ tục, quy định về XDCB của pháp luật và Chủ đầu tu gây nên những chậm trễ trong thanh toán. Để hạn chế đặc điểm này, công tác tổ chức quản lý sản xuất của DNXL phải chặt chẽ, hợp lý, tiết kiệm, thi công dứt điểm các hạng mục công trình, nghiệm thu và thanh toán từng hạng mục khi đua công trình vào sử dụng. - Sản phẩm xây lắp thường được tiêu thụ theo giá dự toán hay giá thoả thuận từ trước với chủ đầu tư thông qua hợp đồng kinh tế. Đặc điểm này đòi hỏi các DNXL phải có chuyên môn, am hiểu, năng động trong kinh doanh và có khả năng lập dự toán chi phí hợp lý mới đảm bảo đuợc khả năng thực hiện công trình theo đúng kỹ thuật đã đuợc quy định trong hợp đồng và phuơng án có hiệu quả, đồng thời thu đuợc tiền thanh toán từ Chủ đầu tu để thanh toán nợ cho ngân hàng.
- Sản phẩm xây lắp liên quan đến nhiều ngành khác nhau trong quá trình xây dựng và sử dụng. Tài sản cố định của các ngành khác nhau là sản phẩm của ngành xây lắp. Do vậy, chất luợng sản phẩm xây lắp liên quan đến chất luợng đầu tu của các ngành và hiệu quả đầu tu trong nền kinh tế. Đặc điểm hoạt động Doanh nghiệp xây lắp có hai lĩnh vực hoạt động chủ yếu là hoạt động tìm kiếm hợp đồng xây dựng và hoạt động bàn giao công trình hoàn thành, thanh quyết toán hợp đồng xây dựng với chủ đầu tu.
Trong xây dựng, nguời ta thuờng phân biệt một bên là chủ đầu tu và đơn vị xây dựng. Hiện nay, các dự án đều thực hiện đấu thầu công khai nhằm 9 chọn các đơn vị xây dựng có đủ tư cách pháp nhân, năng lực hành nghề xây dựng. Do đó, một trong những vấn đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp xây lắp là phải giành được thế cạnh tranh để có thể ký được nhiều hợp đồng xây dựng. Nếu hoạt động này đạt kết quả tốt thì các hoạt động khác của doanh nghiệp như hoạt động sản xuất thi công xây lắp, hoạt độn g bàn giao công trình, hoạt động tài chính.
mới có điều kiện được thực hiện. Hoạt động bàn giao công trình xây dựng hoàn thành và thanh quyết toán hợp đồng với chủ đầu tư được xem là hoạt động quan trọng cuối cùng trong hợp đồng xây dựng. Hoạt động này có quan hệ tích cực cũng như tiêu cực tới hoạt động tìm kiếm hợp đồng xây dựng của doanh nghiệp. Nếu công trình xây dựng đảm bảo chất lượng và thời gian thi công sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp xây lắp trên thị trường.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp bàn giao những công trình không đảm bảo chất lượng và thời gian thì có thể sẽ không được chủ đầu tư chấp nhận, gây khó khăn cho việc thanh quyết toán và uy tín của doanh nghiệp xây lắp sẽ bị giảm. Đặc điểm về tình hình tài chính của doanh nghiệp xây lắp - Các DNXL phần lớn có khả năng tự chủ tài chính thấp. Thực tế hiện nay, vốn chủ sở hữu của DNXL thường chỉ chiếm khoảng 5-20% trong tổng nguồn vốn, còn lại là vốn vay ngân hàng và vốn chiếm dụng khác. Do đó gánh nặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Lợi nhuận đạt được không cao nên khả năng bổ sung vốn chủ sở hữu và đầu tư nâng cao năng lực sản xuất thi công thường hạn chế. Trong khi đó, do sản lượng thi công tăng lên cùng với yêu cầu cao về chất lượng công trình đòi hỏi phải có những thiết bị thi công hiện đại nên nhu cầu vốn (cả vốn lưu động và vốn đầu tư trung dài hạn) ngày càng tăng. Vì vậy, các DNXL phải vay ngân hàng ngày càng nhiều để tài trợ cho nhu cầu vốn của mình. 10 - Ngoài ra, trong thực tế hiện nay, để phát triển hoạt động, tăng năng lực tài chính, hiệu quả kinh doanh, nhiều DNXL không chỉ hoạt động duới hình thức nhà thầu thi công mà còn tiến hành đầu tu các dự án đầu tư bất động sản, thủy điện, kinh doanh nhà hàng khách sạn.
Do đó, nhu cầu vốn vay của các doanh nghiệp này ngày càng tăng cả về vốn ngắn hạn và trung dài hạn; các ngân hàng khi thẩm định, tài trợ vốn cho DNXL cũng phải chú trọng đến tính chất hoạt động đầu tư của DNXL để quyết định mức cho vay, điều kiện cho vay phù hợp. TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. Khái niệm và đặc điểm tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp xây lắp 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Như vậy, khái niệm tín dụng bao gồm nhiều hoạt động như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính và bảo lãnh, tuy nhiên luận văn chỉ nghiên cứu hoạt động cho vay của ngân hàng. Do đó, tín dụng DNXL là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và doanh nghiệp, trong đó ngân hàng sẽ chuyển giao vốn cho doanh nghiệp sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, theo đó doanh nghiệp phải có nghĩa vụ hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho n gân hàng khi đến hạn thanh toán. Đặc điểm tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp xây lắp Xuất phát từ đặc trưng hoạt động của Doanh nghiệp xây lắp, nghiệp vụ 11 cho vay phục vụ thi công xây lắp cũng có những đặc điểm riêng: - Nhu cầu vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Do tính chất hoạt động của DNXL nên cơ cấu vốn có đặc thù riêng khác với ngành công nghiệp và các ngành khác, cụ thể là nhu cầu vốn lưu động (vốn kinh doanh doanh ngắn hạn) cho hoạt động SXKD chiếm tỷ trọng lớn nhất. Các ngân hàng thường cho vay các DNXL chủ yếu để tài trợ vốn lưu động phục vụ thi công các công trình.