Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng, Giáo trình Tín dụng Ngân hàng, Học viện Ngân hàng. 8 Thẩm định dự án thường liên quan đến việc xác định các dòng tiền có liên quan, dự báo, phân tích rủi ro và áp dụng các khái niệm, kỹ thuật và tiêu chí đánh giá dự án để đánh giá liệu các dự án được đề xuất có khả năng tăng giá trị cho công ty hay không. Khi lựa chọn dự án là đối tượng của các hạn chế tài nguyên, các kỹ thuật lập trình toán học như lập trình tuyến tính được sử dụng để chọn kết hợp tối ưu khả thi của các dự án.5 Đối với các nhà tài trợ, tổ chức cho vay, Ngân hàng: Thẩm định tài chính DAĐT là một quá trình được thực hiện bằng kỹ thuật phân tích dự án đã được thiết lập trên cơ sở những chuẩn mực, nhằm rút ra những kết luận làm căn cứ quyết định cho khách hàng vay vốn đầu tư dự án. “Thẩm định tài chính dự án là rà soát, đánh giá một cách khoa học và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư: doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác, các cá nhân.
Nếu như Chính phủ, các cơ quan quản lý vĩ mô quan tâm nhiều hơn tới hiệu qủa kinh tế xã hội của dự án thì các nhà đầu tư này lại quan tâm nhiều hơn tới khả năng sinh lời của dự án. Thẩm định tài chính dự án là nội dung rất quan trọng trong thẩm định dự án. Cùng với thẩm định kinh tế, thẩm định tài chính giúp các nhà đầu tư có những thông tin cần thiết để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn. Vai trò của công tác thẩm định tài chính đối với các NHTM Trong quá trình thẩm định DAĐT, Ngân hàng phải thẩm định nhiều khía cạnh khác nhau trước khi quyết định cho vay, NHTM với tư cách là người cho vay, tài trợ cho DAĐT đặc biệt quan tâm đến khía cạnh thẩm định tài chính dự án, nó có ý nghĩa quyết định trong các nội dung thẩm định.
Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, các khoản cho vay thường chiếm 59% tài sản của ngân 5 Capital Budgetding: Financial Appraisal of Investment Projecct (2002). 6 Lưu Thị Hương (2014), Thẩm định tài chính dự án, NXB Tài chính, Hà Nội. 9 hàng và 65% - 70% lợi nhuận của ngân hàng từ các hoạt động cho vay.7 Ngân hàng hoạt động có tốt tùy thuộc vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công tín dụng, từ chính sách cho vay của ngân hàng. Trong các hoạt động cho vay của ngân hàng thì cho vay theo DAĐT được ngân hàng đặc biệt quan tâm vì nó đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian kéo dài và tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng mặt khác lại đem lại lợi nhuận cao.
Có nhiều rủi ro khác nhau khi cho vay nói chung và cho vay theo DAĐT nói riêng bắt nguồn từ nhiều yếu tố và có thể dẫn đến việc không chi trả được nợ khi đến hạn. Do đó, để ra quyết định có đồng ý cho vay hay không, ngân hàng cần phải phân tích tín dụng nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng. Qua công tác thẩm định, ngân hàng có cái nhìn toàn diện về dự án, từ đó đánh giá về nhu cầu tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, tình hình sử dụng nguồn vốn và hiệu quả tài chính của DAĐT cũng như khả năng trả nợ của dự án. Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư • Thẩm định nhu cầu tổng vốn đầu tư: Dưới góc độ của một dự án, vốn đầu tư là tổng số tiền được chỉ tiêu để hình thành nên các TSCĐ và TSLĐ cần thiết.
Những tài sản này sẽ được sử dụng trong việc tạo ra doanh thu, chi phí, thu nhập suốt vòng đời hữu ích của dự án. Thẩm định vốn đầu tư là việc phân tích và xác định nhu cầu vốn đầu tư cần thiết dành cho một dự án. Đặc điểm của các dự án là thường yêu cầu một lượng vốn lớn và sử dụng trong một thời gian dài. Tổng vốn đầu tư này trước khi trình Ngân hàng thì đã được xác định và được nhiều cấp, ngành xem xét, phê duyệt.
Tuy nhiên, Ngân hàng cần phải thẩm định lại trước khi cho vay, bởi vì sai sót trong việc xác định nhu cầu vốn đầu tư của dự án có thể dẫn tới tình trạng lãng phí vốn lớn, gây khó khăn trong hoạt động đầu tư cũng như hoạt động vận hành kết quả đầu tư sau này, thậm chí gây hậu quả nghiêm trọng đối với chủ đầu tư. 7 Lê Minh (2014), “Thẩm định dự án trong ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm từ Techcombank”. 10 Do đó việc xác định hợp lý tối đa tổng mức vốn đầu tư của một dự án là cần thiết đối với ngân hàng. Ngân hàng sẽ thẩm định chi tiết tổng vốn đầu tư được hình thành như thế nào: Vốn đầu tư vào TSCĐ: Đây là hoạt động đầu tư nhằm mua sắm, cải tạo, mở rộng TSCĐ.
Vốn đầu tư vào TSCĐ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư cho dựa án. Các TSCĐ được đầu tư có thể là TSCĐHH hoặc TSCĐVH. Cụ thể là: - Chi phí xây lắp: Chi phí khảo sát, thiết kế, xây dựng luận chứng kinh tế - kỹ thuật, chi phí ban đầu về quyền sử dụng đất, chi phí đến bù, cho phí cần thiết và hợp lý cho các thủ tục pháp lý như đăng ký kinh doanh, thuế trước bạ, lệ phí chứng từ… - Chi phí máy móc thiết bị công nghệ, hệ thống dây chuyền và cá thiết bị bán lẻ: Giá mua thiết bị, chi phí bảo quản, vận hành, vận chuyển. - Chi phí dự phòng.
- Chi phí khác: Chi phí này phát sinh trong quá trình thực hiện dự án không liên quan trực tiếp đến việc tạo hay vận hành các TSCĐ. Vốn đầu tư vào TSLĐ: Đây là vốn đầu tư nhằm hình thành TSLĐ cần thiết kế để thực hiện dự án. Nhu cầu đầu tư vào TSLĐ phụ thuộc vào đặc điểm của từng dự án. Bao gồm TSLĐ trong sản xuất (Nguyên liệu, vật liệu… và sản phẩm dở dự án) và tài sản trong quá trình lưu thông (Vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, sản phẩm hàng hóa chờ tiêu thụ…) • Thẩm định phương án tài trợ dự án đầu tư Các phương án tài trợ cho DAĐT thông thường bao gồm các nguồn chính là: Vốn tự có của chủ đầu tư, vốn vay NHTM, vốn vay quỹ hỗ trợ phát triển, vốn do Ngân sách cấp, nguồn vốn khác.
Nhiệm vụ thẩm định các nguồn vốn tài trợ cho dự án là để xem xét về số lượng, thời gian, tỷ trọng các nguồn trong tổng vốn đầu tư, cơ cấu vốn 11 có hợp lý và tối ưu. Mặt khác, cơ cấu nguồn vốn sẽ chi phối việc xác định dòng tiền phù hợp cũng như lựa chọn lãi suất chiết khấu hợp lý để xác định NPV của dự án. Trong quá trình thẩm định các nguồn vốn tài trợ cho dự án, Ngân hàng phải xem xét cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế của các nguồn vốn để có thể khẳng định chắc chắn rằng các nguồn đó là có thực. Trong thực tế có đơn vị vốn tự có thực tế không đủ hoặc không có tham gia vào dự án, nên đã đẩy vốn đầu tư lên mức nhu cầu cao hơn thực tế cần thiết để vay tín dụng bù đắp, nếu không xem xét kỹ thì vô tình ngân hàng đã tham gia 100% nhu cầu vốn đầu tư.
Ngân hàng phải đánh giá nhu cầu vốn và mức cân đối vốn từ các nguồn tài trợ trong các giai đoạn thực hiện dự án. Từ đó, xây dựng một trình tự cho vay sao tiến độ bỏ vốn phù hợp với tiến độ thi công xây lắp và việc điều hành vốn của Ngân hàng. • Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án đầu tư Hiệu quả tài chính DAĐT được đánh giá thông qua các phương pháp phân tích tài chính trên cơ sở dòng tiền của dự án. Dòng tiền của một dự án được hiểu là các khoản chi và thu được kỳ vọng xuất hiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt chu kỳ của dự án.
Khi lấy toàn bộ khoản tiền thu được trừ đi khoản tiền chi ra thì chúng ta sẽ xác định được dòng tiền ròng tại các mốc thời gian khác nhau. Quá trình xác định dòng tiền ròng hàng năm dựa trên lợi nhuận sau thuế, khấu hao, lãi vay và những khoản mục điều chỉnh khác khi có sự khác biệt trong cơ cấu đầu tư tài trợ cho dự án. Nếu sai lầm trong việc xác định các dòng tiền có thể dẫn đến tính toán và thẩm định hiệu quả tài chính dự án không có ý nghĩa thực tế nữa. Do đó đứng trên góc độ là Ngân hàng khi xác định dòng tiền còn lưu ý một số vấn đề sau: - Cơ cấu vốn tài trợ cho dự án: Như đã phân tích ở trên, cơ cấu vốn tài trợ cho dự án có ảnh hưởng đến việc xác định dòng tiền hoạt động mỗi năm của dự án.
Một dự án có thể được tài trợ bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, do đó dòng tiền sẽ được điều chỉnh để phù hợp với mỗi phương thức tài trợ. - Lãi suất chiết khấu được lựa chọn là thực hay danh nghĩa: Lãi suất thực là lãi suất dự án danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát dự kiến. Việc lựa chọn lãi suất hay 12 dự án nghĩa không thành vấn đề miễn là đảm bảo nguyên tắc nhất quán: Lãi suất chiết khấu thực áp dụng đối với dòng tiền thực, lãi suất chiết khấu dự án nghĩa áp dụng đối với dòng tiền dự án nghĩa. - Lựa chọn phương pháp tính khấu hao: Việc lựa chọn phương pháp tính khấu hao sẽ ảnh hưởng tới quy mô dòng tiền mỗi năm.
- Rủi ro: Trong quá trình thẩm định tài chính dự án, chúng ta cần phải xem xét và phân tích cẩn trọng rủi ro đối với dự án. Rủi ro bao gồm rất nhiều loại và chúng đều tác động tới kết quả của việc xác định dòng tiền dự tính cho dự án.