phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận về tài trợ thƣơng mại và chất lƣợng tài trợ thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng tài trợ thƣơng mại tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam- chi nhánh Bắc Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng hoạt động tài trợ thƣơng mại quốc tế tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam- chi nhánh Bắc Hà Nội 8 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI VÀ CHẤT LƢỢNG TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI TRỢ THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tài trợ thƣơng mại Theo luật thƣơng mại Việt nam năm 2005, Hoạt động thƣơng mại quốc tế là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tƣ, xúc tiến thƣơng mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác, diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Ngày nay, hoạt động thƣơng mại quốc tế trở nên ngày càng phát triển nhờ sự gia tăng năng suất lao động, sự phát triển của công nghệ thông tin, sự tự do hóa về kinh tế trên toàn thế giới cũng nhƣ sự gia tăng về số lƣợng bạn hàng trong và ngoài nƣớc.
Tuy nhiên thƣơng mại quốc tế là một hoạt động phức tạp, do các chủ thể tham gia thuộc các quốc gia khác nhau, có sự khác biệt về mặt ngôn ngữ, phong tục, tập quán, luật pháp … Mặt khác, hoạt động xuất nhập khẩu thƣờng đƣợc thực hiện với giá trị lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt khi đối tác không thực hiện nghĩa vụ, cam kết của mình đƣợc quy định trong hợp đồng ngoại thƣơng. Từ những lý do trên, trong thƣơng mại quốc tế, các doanh nghiệp luôn cần có sự tham gia của các ngân hàng thƣơng mại, nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu rủi ro Chính vì vậy, hoạt động tài trợ tài trợ thƣơng mại quốc tế ra đời nhƣ một đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế toàn cầu, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng quốc tế. Thuật ngữ “tài trợ” đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả “uy tín, niềm tin” chứ không đơn thuần chỉ là khoản tiền cho vay nhƣ cách hiểu thông thƣờng. Nhƣ vậy, Tài trợ thƣơng mại của Ngân hàng thƣơng mại là việc “Ngân hàng thƣơng mại dùng uy tín (credit) và tài chính (capital) của mình để hỗ trợ, 9 tài trợ cho các hoạt động thƣơng mại từ khâu sản xuất đến tiêu dùng sản phẩm trên thị trƣờng thế giới” (Nguyễn Thị Hƣờng, 2008) 1.
Vai trò của tài trợ thƣơng mại Trong xu hƣớng toàn cầu hoá nền kinh tế và thƣơng mại quốc tế ngày càng phát triển thì TTTM đã trở thành một hoạt động không thể thiếu của các Ngân hàng thƣơng mại. Tài trợ thƣơng mại đóng vai trò ngày càng quan trọng với nền kinh tế, với doanh nghiệp và với bản thân ngân hàng thƣơng mại. Đối với nền kinh tế Thông qua các hình thức tài trợ TMQT của các NHTM, việc mua bán hàng hoá xuất nhập khẩu đƣợc thực hiện dễ dàng, thuận tiện, góp phần nâng cao tính năng động của nền kinh tế và giúp ổn định thị trƣờng. Hoạt động TTTM tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thƣơng phát triển, đẩy mạnh quá trình sản xuất lƣu thông hàng hoá giữa các nƣớc trên thế giới Bên cạnh đó, hoạt động tài trợ TMQT của NHTM còn giúp các doanh nghiệp đứng vững trong cơ chế thị trƣờng và có thể tồn tại trong thời kỳ hội nhập.
Nhờ có hoạt động tài trợ, các doanh nghiệp có vốn để thay đổi dây chuyền công nghệ, hiện đại hoá máy móc nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra các sản phẩm phong phú, đa dạng hơn. Doanh nghiệp phát triển là cơ sở, tiền đề cho kinh tế đất nƣớc phát triển. Đối với ngân hàng Đối với Ngân hàng thƣơng mại, tài trợ thƣơng mại là một trong những nghiệp vụ ngân hàng quốc tế quan trọng, mang lại cho ngân hàng nhiều lợi ích Thứ nhất, nghiệp vụ tài trợ thƣơng mại là mảng dịch vụ đem lại nguồn thu đáng kể cho Ngân hàng. Đối với NHTM hiện đại, thu nhập từ phí dịch vụ, trong đó có tài trợ thƣơng mại ngày càng tăng cả về số lƣợng lẫn tỉ trọng.
Các khoản thu từ phí và lãi liên quan đến tài trợ thƣơng mại bao gồm: phí phát hành L/C, phí thông báo L/C, phí xác nhận L/C, phí nhờ thu, lãi chiết khấu chứng từ, lãi cho vay thanh toán, … Bên cạnh đó, TTTM còn thúc đẩy 10 sự phát triển các hoạt động khác của ngân hàng nhƣ kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng… Thứ hai, tài trợ thƣơng mại giúp đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục đích vì việc tài trợ gắn liền với hoạt động ngoại thƣơng. Ví dụ nhƣ trong nghiệp vụ thanh toán L/C nhập khẩu, vốn tài trợ đƣợc thanh toán thẳng cho bên thứ ba (ngƣời thụ hƣởng trong L/C), mà không qua bên xin tài trợ (ngƣời đề nghị hay chính là doanh nghiệp). Điều này tránh đuợc tình trạng ngƣời xin tài trợ sử dụng vốn sai mục đích, hạn chế đƣợc rủi ro tín dụng. Thứ ba, tài trợ thƣơng mại giúp ngân hàng quản lý các nguồn thanh toán của doanh nghiệp.
Khi thực hiện tài trợ, ngân hàng yêu cầu mọi giao dịch thanh toán giữa ngƣời xuất khẩu và ngƣời nhập khẩu đều phải thực hiện thông qua tài khoản tại ngân hàng. Do vậy, nguồn thu để trả nợ đƣợc ngân hàng quản lý chặt chẽ Thứ tƣ, thông qua hoạt động tài trợ thƣơng mại, ngân hàng mở rộng đƣợc quan hệ với các doanh nghiệp trong nƣớc, mở rộng mối quan hệ đại lí với các ngân hàng nƣớc ngoài, từ đó tăng cơ hội kinh doanh sinh lợi cho Ngân hàng, nâng cao vị thế cạnh tranh và khả năng phát triển của mình. Đối với Doanh nghiệp Tài trợ thƣơng mại giúp doanh nghiệp thực hiện thành công giao dịch xuất nhập khẩu của mình với giá trị lớn Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTTM của Ngân hàng thƣơng mại giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng đƣợc tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí. Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu chứng từ xuất khẩu.
Qua việc thực hiện thanh toán, ngân hàng còn có thể giám sát đƣợc tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những tƣ vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lƣợc khách hàng 11 Với nhà xuất khẩu: nguồn tài trợ của ngân hàng sẽ giúp nhà xuất khẩu có nguồn vốn để thu mua hàng hóa, sản xuất hàng hóa theo đơn đặt hàng. Ngoài ra, ngân hàng có thể cung cấp bảo lãnh trong trƣờng hợp nhà xuất khẩu gặp phải vấn đề uy tín trong kinh doanh khi đặt quan hệ với đối tác nƣớc ngoài Với nhà nhập khẩu, ngân hàng tài trợ “chữ tín” cho nhà nhập khẩu trong việc phát hành LC đồng thời cung cấp dịch vụ để thanh toán tiền hàng nhập khẩu nhƣ tài trợ cho vay thế chấp bằng lô hàng nhập 1. Phân loại các nghiệp vụ tài trợ thƣơng mại Trong phạm vi bài nghiên cứu, các nghiệp vụ tài trợ thƣơng mại đƣợc chia thành bốn mảng: tài trợ theo phƣơng thức nhờ thu, tài trợ theo phƣơng thức tín dụng chứng từ, tài trợ thông qua hình thức Factoring và tài trợ thông qua sử dụng Forfaiting. Trong mỗi một nghiệp vụ, hình thức tài trợ cho nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu đều có sự phân định rõ ràng, có ƣu và nhƣợc điểm riêng, phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể 1.1 Tài trợ bằng phương thức nhờ thu Về nguyên tắc, ngân hàng cung cấp phƣơng thức nhờ thu cho khách hàng để thu phí dịch vụ, ngân hàng không có cam kết thanh toán nào và không chịu trách nhiệm về việc thanh toán giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu.
Tuy nhiên, trên thực tế, ngân hàng vẫn thực hiện tài trợ cho nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu thông qua từng nghiệp vụ cụ thể Tài trợ cho nhà xuất khẩu +) Chiết khấu hoặc ứng trƣớc bộ chứng từ Đối với nhà xuất khẩu, ngân hàng thƣờng áp dụng hình thức chiết khấu có truy đòi. Chiết khấu là việc ngân hàng mua lại bộ chứng từ với giá trị thấp hơn mệnh giá. Nhƣ vậy, trong phƣơng thức nhờ thu, ngân hàng có quyền truy đòi lại số tiền đã chiết khấu và lãi chiết khấu nếu bộ chứng từ không đƣợc thanh toán. Trƣớc khi đƣa ra quyết định tài trợ, ngân hàng thƣờng xem xét 12 đến các yếu tố nhƣ: điều kiện thanh toán D/P hay D/A, hệ số tín nhiệm của ngƣời mua, rủi ro quốc gia, quyền truy đòi với nhà xuất khẩu….
Một hình thức khác mà ngân hàng tài trợ cho nhà xuất khẩu trong phƣơng thức nhờ thu là ứng trƣớc tiền cho bộ chứng từ nhờ thu. Thực chất, đây là việc ngân hàng cho vay tiền trên cơ sở đảm bảo bằng bộ chứng từ nhờ thu. Vì vậy, về bản chất thì ứng trƣớc và chiết khấu có truy đòi là giống nhau +) Chiết khấu hối phiếu đòi nợ Trong trƣờng hợp bộ chứng từ nhờ thu là có kì hạn, và khách hàng xuất trình hối phiếu kì hạn kèm bộ chứng từ, ngân hàng có thể tài trợ cho nhà xuất khẩu thông qua việc chiết khấu hối phiếu. Ngân hàng thƣờng áp dụng hình thức chiết khấu có truy đòi do doanh nghiệp là ngƣời kí chấp nhận trả tiền hối phiếu Tài trợ cho nhà nhập khẩu +) Cho vay thanh toán lô hàng nhập Đối với nhà nhà nhập khẩu, ngân hàng thực hiện việc tài trợ thông qua cho vay thanh toán ngay lô hàng nhập khẩu.
Với điều kiện thanh toán D/P, nhà nhập khẩu phải thanh toán ngay để nhận bộ chứng từ. Vì vậy, trong nhiều trƣờng hợp, doanh nghiệp không có đủ nguồn vốn cần thiết để thanh toán cho đến khi có thu nhập từ sản xuất, kinh doanh mặt hàng đã nhập về. Khi đó, nhà nhập khẩu dùng lô hàng làm tài sản đảm bảo đề nghị ngân hàng phục vụ mình cho vay để thanh toán bộ chứng từ. Khi áp dụng tài trợ bằng phƣơng pháp này, ngân hàng kiểm soát lô hàng bằng việc thuê bảo vệ theo dõi kho hàng, mọi giao dịch xuất hàng buôn bán, sản xuất phải có sự theo dõi giám sát của ngân hàng và là cơ sở để ngân hàng thực hiện thu tiền để thu hồi gốc, lãi.