CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Nhân lực và chất lượng nhân lực 1.1 Khái niệm lao động [2;5] Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người, đến một mức và trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói rằng: lao động đã tạo ra chính bản thân con người.[5,7] Lao động là một hành động diễn ra giữa người và giới tự nhiên. Trong khi lao động, con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử dụng công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên, chiếm lấy những vật chất trong giới tự nhiên, biến đổi những vật chất đó làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống của mình.2 Khái niệm về nhân lực[1;2;9] Nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp còn gần nghĩa với sức mạnh của lực lượng lao động, sức mạnh của đội ngũ người lao động, sức mạnh của đội ngũ cán bộ, công nhân, viên chức (CBCNVC) của doanh nghiệp. Sức mạnh đó là sức mạnh hợp thành từ sức mạnh của các loại lao động, sức mạnh hợp thành từ khả năng lao động của từng người lao động.
Khả năng lao động của một người là khả năng đảm nhiệm, thực hiện, hoàn thành công việc bao gồm các nhóm yếu tố: sức khoẻ (nhân trắc, độ lớn và mức độ dai sức. ), trình độ (kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm), tâm lý, mức độ cố gắng. Trong kinh tế thị trường, không cần có biên chế, nhân lực của doanh nghiệp là sức mạnh hợp thành các loại khả năng lao động của những người giao HV: Nguyễn Thị Chi 4 Khoa Kinh tế & Quản lý CH khoá 2006 - 2008 Luận văn thạc sỹ QTKD Trường ĐHBK HN kết, hợp đồng làm việc cho doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp là đầu vào độc lập của bất kì quá trình nào trong hoạt động của doanh nghiệp.3 Vai trò của nhân lực [2;4;8] Nhân lực của doanh nghiệp là đầu vào độc lập, quyết định chất lượng, chi phí, thời hạn của các sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp, điều đó được hoàn toàn được khẳng định bởi: Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp do con người thực hiện và quay lại phục vụ con người, con người phân tích dự báo nhu cầu thị trường, các đối thủ cạnh tranh, quyết định chiến lược kế hoạch.
Trong nền kinh tế hiện đại, các nhân tố công nghệ phát triển mạnh mẽ, con người không trực tiếp tham gia các quá trình sản xuất nhưng với sự gia tăng của hàm lượng chất xám trong từng sản phẩm, dịch vụ, vai trò của nhân tố con người ngày càng trở nên quan trọng. Trước đây, hàm lượng chất xám của lao động trong các sản phẩm thấp, sản xuất không đòi hỏi lao động phải có trình độ cao, kĩ năng tốt, do vậy mà lực lượng lao động không cần thiết phải qua các chương trình đào tạo chuyên sâu mà đơn giản chỉ là các khoá học ngắn hạn trang bị kiến thức cơ bản. Trình độ của lực lượng lao động thấp chỉ thích hợp với trình độ phát triển thấp của công nghệ, thiết bị và tất yếu là với sản xuất như vậy không thể có sản xuất với năng suất cao, chất lượng tốt. Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và từ năm 2006 đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.
Hơn bao giờ hết nhân lực trở thành nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển của một quốc gia và của từng doanh nghiệp. Ngay từ bây giờ nếu không sẽ là quá muộn các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng nâng cao chất lượng nhân lực để sao cho trong thời gian ngắn nhất, nhân lực của các doanh nghiệp Việt Nam đủ lớn mạnh, đóng vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩy sự phát triển của từng doanh nghiệp và của nền kinh tế. [4,27] [2,6] Do đó, vai trò của nhân lực là rất lớn và có tính quyết định đến sự phát triển của từng doanh nghiệp và của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện HV: Nguyễn Thị Chi 5 Khoa Kinh tế & Quản lý CH khoá 2006 - 2008 Luận văn thạc sỹ QTKD Trường ĐHBK HN nay. Tuy nhiên, để nhân lực của các doanh nghiệp Việt Nam phát huy tốt vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển thì vấn đề đặt ra là nhân lực phải đạt tiêu chuẩn nhất định về chất lượng và số lượng.
Xét trên khía cạnh vĩ mô, nhân lực mạnh mẽ còn bao hàm một cơ cấu ngành nghề hợp lý, cơ cấu trình độ, cơ cấu phân bố.4 Cơ cấu lao động trong doanh nghiệp[3;7;15] Chất lượng lực lượng lao động trong doanh nghiệp được phản ánh thông qua cơ cấu lao động. Cơ cấu lao động trong doanh nghiệp được phân theo chức năng thực hiện công việc, theo tuổi, trình độ văn hoá, chuyên môn, lành nghề,. a) Cơ cấu lao động theo chức năng Lao động trong các doanh nghiệp thuộc khu vực sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng. theo chức năng được chia như sau: + Lao động trực tiếp : Gồm công nhân và học nghề Công nhân: Là người trực tiếp sản xuất hoặc tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp.
Tuỳ theo vai trò sản xuất hoặc tham gia, toàn bộ công nhân được chia thành: - Công nhân chính : Là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. - Công nhân phụ : Là người phục vụ cho công nhân chính hoàn thành nhiệm vụ sản xuất - chẳng hạn công nhân vận chuyển nguyên vật liệu đến nơi làm việc của công nhân chính và vận chuyển thành phẩm của công nhân chính đến kho. - Công nhân phục vụ : Không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nhưng giúp cho công nhân chính hoàn thành tốt nhiệm vụ như công nhân phục vụ điện, nước, cơ khí, sữa chữa máy móc thiết bị trong ca. - Học nghề : Là những người học tập kĩ thuật sản xuất của một nghề dưới sự hướng dẫn của công nhân lành nghề.
Lao động của họ cũng góp phần trực tiếp vào việc tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp. HV: Nguyễn Thị Chi 6 Khoa Kinh tế & Quản lý CH khoá 2006 - 2008 Luận văn thạc sỹ QTKD Trường ĐHBK HN + Lao động gián tiếp : Gồm lao động quản lý kĩ thuật, quản lý kinh tế và quản lý hành chính. - Lao động quản lý kĩ thuật : Là những người làm công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức và hướng dẫn kĩ thuật trong doanh nghiệp. Số lao động này gồm: Giám đốc hoặc Phó giám đốc phụ trách kĩ thuật, Quản đốc hoặc Phó quản đốc phân xưởng, trưởng, phó phòng kĩ thuật, các kĩ sư, nhân viên kĩ thuật.
- Lao động quản lý kinh tế: Là những người làm công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp số lao động này gồm: Giám đốc hoặc Phó giám đốc kinh doanh, Kế toán trưởng, các trưởng phòng ban, các chuyên viên và nhân viên làm công tác quản lý kinh tế ở các phòng ban: kế hoạch, thống kê, tài vụ, lao động tiền lương, marketing. - Lao động quản lý hành chính là những người làm công tác hành chính, văn thư, bảo vệ, phục vụ nhà khách, lái xe, tạp vụ. Theo vai trò thực hiện chức năng, lao động gián tiếp trong doanh nghiệp lại được chia thành: Cán bộ lãnh đạo, Chuyên viên, Cán bộ chuyên môn, Nhân viên thừa hành kĩ thuật, quản lý kinh tế, quản lý hành chính. Tuỳ theo quy mô doanh nghiệp, lao động gián tiếp lại được phân cấp theo cấp quản lý: Cấp tổng công ty, cấp công ty, cấp xí nghiệp thành viên, các phân xưởng, phòng ban, cấp đội, tổ sản xuất.
b) Cơ cấu lao động theo giới tính : Tỷ trọng của lao động nam, nữ so với tổng số lao động trong doanh nghiệp. Cơ cấu lao động theo giới tính cho phép đánh giá nguồn nhân lực trên góc độ: Phân công lao động, bố trí lao động, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, sức khoẻ, năng lực, sở trường của từng giới. c) Cơ cấu lao động theo tuổi : Tỷ trọng lao động ở từng độ tuổi hoặc nhóm tuổi so với tổng số lao động trong doanh nghiệp. Trong nghiên cứu thường kết hợp hai tiêu thức cơ cấu lao động theo giới tính và tuổi.
HV: Nguyễn Thị Chi 7 Khoa Kinh tế & Quản lý CH khoá 2006 - 2008 Luận văn thạc sỹ QTKD Trường ĐHBK HN d) Cơ cấu lao động theo trình độ văn hoá : Đánh giá năng lực trong doanh nghiệp, theo trình độ văn hoá, lực lượng lao động trong doanh nghiệp được phân loại theo các trình độ: Không biết chữ, chưa tốt nghiệp tiểu học, tốt nghiệp tiểu học, tốt nghiệp trung học cơ sở, tốt nghiệp phổ thông trung học. Dựa vào cách phân loại lao động trên tính tỷ trọng lao động từng loại trong tổng số lao động của doanh nghiệp. e) Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn, lành nghề Có sự khác nhau giữa lao động trực tiếp và lao động gián tiếp: + Đối với công nhân: Cơ cấu lao động theo trình độ lành nghề được xem xét theo số lượng và tỷ trọng lao động của từng bậc (1,2,3.6) trong tổng số công nhân sản xuất. + Đối với lao động quản lý gián tiếp: Cơ cấu trình độ chuyên môn được phân chia theo các tiêu thức: Không qua đào tạo, Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng, Đại học, Trên đại học.
f) Cơ cấu lao động theo thâm niên : Có thể nghiên cứu thâm niên của người lao động theo hai tiêu thức khác nhau. Một là thâm niên công tác phản ánh số năm đã tham gia vào quá trình sản xuất xã hội có thể ở nhiều doanh nghiệp, hoặc nhiều nghề khác nhau. Hai là, thâm niên nghề phản ánh kinh nghiệm làm việc thuộc một nghề nào đó trong doanh nghiệp của người lao động. Có thể phân chia theo: Số lượng và tỷ trọng người lao động có thâm niên dưới 5 năm.
Số lượng và tỷ trọng người lao động có thâm niên từ 5-10 năm. Số lượng và tỷ trọng người lao động có thâm niên trên 10 năm đến 15 năm. Số lượng và tỷ trọng người lao động có thâm niên trên 15 năm đến 20 năm. Số lượng và tỷ trọng người lao động có thâm niên trên 20 năm.