CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ NẲNG CAO CHẮT LƯỢNG NGUỒN NHÂN Lực TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm liên quan 1.1 Nguồn nhân lực Nhân lực là nguồn lực trong chính con người, trong đó có cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng. Nó biểu hiện bên ngoài bằng năng lực lao động và nó bao hàm kỹ năng, kiến thức, tâm lí và ý chí, sự kiên trì và khả năng chịu đựng. Trong việc phát triển những học thuyết về lao động xuất phát từ lý luận và thực tiễn nhiều nhà kinh tế học và quản lý đã sử dụng thuật ngữ "lực lượng lao động" thay thế cho thuật ngữ "nguồn nhân lực". Ngày nay, thuật ngữ "nguồn nhân lực" được sử dụng ngày càng rộng rãi đã phản ánh quan điểm khoa học về con người vói sự phát triển cả số lượng lẫn chất cùng vai trò to lớn của con người đối với phát triển kinh tế xã hội.
Tổ chức Lao động quốc tế (2013) đã đưa định nghĩa nguồn nhân lực quốc gia chính là toàn bộ các tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm và sự cống hiến của con người có liên hệ với sự phát triển của con người và đất nước. Vói quan niệm trên, Liên hợp quốc đã nêu ra các đặc tính của nguồn nhân lực mà đó cũng là những tiêu chuẩn của nguồn nhân lực. Ngân hàng thế giới (World Bank, 2015) nhận định thêm: "Nguồn nhân lực là tất cả vốn con người gồm thể chất lẫn trí tuệ và kỹ năng v.của từng cá thể". Lúc bấy giờ nguồn nhân lực trở nên một nguồn vốn bên dưới những nguồn vốn hữu hình khác bao gồm: vốn tiền tệ, kỹ thuật và tài nguyên v.
Sự khác của vốn nhân lực là do mục đích của vốn là nhằm huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ấy. Theo quan điểm của Lê Hữu Tầng trong chưong trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước năm 2007 thì “nguồn nhân lực” được hiểu là: “số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ, phong cách làm việc”. 6 Nghiên cứu quy mô lớn (xã hội) thì nguồn nhân lực là nguồn cung ứng lao động cho toàn bộ xã hội và bao gồm tất cả dân cư có thể lao động thông thường và là một bộ phận của quá trình tăng trưởng kinh tế xã hội và là khả năng lao động của xã hội theo nghĩa rộng lón hon bao gồm tất cả dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và là toàn bộ nhân tố thể chất và tâm lý được sử dụng cho việc lao động Theo nghiên cứu quy mô hẹp (doanh nghiệp) thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những con người tham dự vào bất kỳ công việc nào của doanh nghiệp. Đây là nguồn tài sản quý báu và vô tận của doanh nghiệp.
Giáo sư Phạm Minh Hạc (2004) cho rằng nguồn nhân lực là tổng hợp các tiềm năng của con người, đặc biệt là tiềm năng lao động bao gồm thể lực, trí tuệ, đạo đức và phẳm chất con người để thoả mãn nhu cầu của phát triển kinh tế xã hội nói chung. Có thể là một nước hoặc một khu vực hay một cá nhân hoặc một tổ chức cụ thể trong hiện nay và tưong lai Nguyễn Ngọc Quân (2012): "Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm toàn bộ những người lao động làm việc tại một tổ chức nhất định, nguồn nhân lực được định nghĩa là nguồn lực của từng con người mà nguồn lực này bao gồm có cả sức và trí". Đó là bản thân con người và những hành vi của con người trong tổ chức đó tạo thành các hoạt động - phần không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Nhìn chung, có khá nhiều nhận định liên quan về nhân lực và nguồn nhân lực.
Từ đó, tác gia khái quát và có nhận định chung như saunhân lực xã hội là những con người trong xã hội được dùng sức mạnh và trí lực phục vụ xã hội. Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng lón không chịu hạn ché về lứa tuổi trẻ và đối tượng được dùng sức mạnh hay trí lực đóng góp vào xã hội. Theo định nghĩa rộng lớn thì nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bao hàm toàn bộ những cá nhân hoạt động tại doanh nghiệp đó vói thế lực và trí lực của bản thân. Một doanh nghiệp để tồn tại và tăng trưởng phải sử dụng tốt nguồn lực con người.
Trong nội dung chính của đề tài em sẽ đi sâu khai thác nguồn nhân lực tại doanh nghiệp là đội ngũ người làm việc thoả mãn điều kiện trên phương diện vật 7 chất, lao động về trí lực và thể chất của họ. Hay được hiểu là nguồn lực con người, là lực lượng lao động của công ty, doanh nghiệp.2 Chất lượng nguồn nhân lực Từ các đánh giá nêu trên, nguồn nhân lực có thể được phân tích và đánh giá theo co cấu, chất lượng và giá trị. về quy mô: phản ánh co cấu nguồn nhân lực thông qua mức độ phát triển nguồn nhân lực. về chất lượng: phản ánh mối tưong quan của những nhân tố hình thành lên tính chất bên trong của nguồn nhân lực và được biểu thị qua thể chất, trí lực và khả năng lao động, tinh thần và trách nhiệm, thái độ lao động và tác phong làm việc.
Số lượng nghiên cứu về chất lượng nguồn nhân lực hiện nay tại Việt Nam và quốc tế là khá nhiều, tuy nhiên không có được ý kiến nào chỉ rõ về cách đánh giá chất lượng nguồn nhân lực gồm các tiêu chí như thế nào và muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải có các yếu tố gì. Trong thực tiễn khái niệm chất lượng nguồn nhân lực rất dễ bị nhầm với khái niệm về phẩm chất đạo đức và trình độ học vấn của nguồn nhân lực. Theo Phùng Rân (2006) thì chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua hai tiêu chí là năng lực chuyên môn của nguồn nhân lực và phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực ấy. Năng lực làm việc có được nhò học tập, qua rèn luyện và trong quá trình làm việc được đánh giá thông qua học hàm, học vị, chức danh nghề nghiệp và kĩ năng xử lý công việc.
Năng lực làm việc là thành quả đào tạo bồi dưỡng của toàn xã hội mà không riêng biệt một đon vị nào. Theo quan niệm trên, năng lực của nguồn nhân lực thiên hon phẩm chất của nguồn nhân lực. Việc xác định những tiêu chí đánh giá năng lực nguồn nhân lực quan trọng hơn phẩm chất nguồn nhân lực. Mai Quốc Chánh (2008) cho rằng "chất lượng nguồn nhân lực được xét trên các mặt: trình độ sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn và năng lực nghề nghiệp".
Tác giả chỉ "xem xét trên các mặt" mà không xem đó là những tiêu chí bắt buộc. Bên cạnh đó có nhiều mặt cần được hoặc không được tính đến. Như vậy có thể nhìn ra 8 rằng hướng tiếp cận đối với chất lượng nguồn nhân lực hiện nay không được nhất trí. Các tiêu chí đặt ra thường là một số tiêu chí chung chung về: trình độ, sức khoẻ và năng lực.
Thông qua những ý kiến trên, có thể kết luận rằng Chất lượng nguồn nhân lực tại doanh nghiệp là một bộ phận của nguồn nhân lực tại doanh nghiệp được thể hiện thông qua sự tác động của những nhân tố hợp thành cụ thể là: - Thể lực của con người dưới tác động của đời sống xã hội, việc chăm lo sức khoẻ và tập luyện của mỗi con người cụ thể. Thể lực có vai trò to lớn đối với năng lực làm việc của con người. Phải có thể lực con người mói có thể phát triển năng lực và trách nhiệm của bản thân đối với đất nước. -Trí lực được đánh giá bằng kiến thức tổng quát về khoa học tự nhiên và trình độ hiểu biết chuyên môn, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng suy nghĩ độc lập sáng tạo của từng con người.
- Đạo đức và nhân cách là các phẩm chất co bản về mặt tinh thần của nguồn nhân lực bao hàm tất cả các thái độ và hành vi nhân cách, thái độ và quan điểm đạo đức xã hội thông qua những hình thức văn hoá, tư tưởng và thẩm mỹ., đi kèm với bản sắc dân tộc. Trong trường hợp này, chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm thể hiện một tổ hợp những tiêu chí bao gồm thể lực và trí lực, kỹ năng của đội ngũ nhân lực tại doanh nghiệp. Đặc biệt là những tiêu chí thể hiện năng lực làm việc và kỹ năng giải quyết công việc cần có trình độ văn hoá, kiến thức chuyên môn và kỹ năng được bồi dưỡng hoặc đào tạo- là nhân tố về trí lực của nguồn lao động. Nhưng nếu có trí lực mà lại nguồn nhân lực không có sức khoẻ hoặc thể lực kém sẽ ảnh hưởng ngược lại với trí lực.
Thái độ đối với công việc cũng là thái độ của nguồn nhân lực. Đó là thái độ làm việc, khả năng chịu đựng sức ép công việc và thái độ tâm lý của ngời nhân lực được thể hiện qua thái độ. Thái độ đối với công việc cũng là thể hiện tình hình sức khoẻ của nguồn nhân lực.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Với cá nhân người lao động, "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” là tăng thêm chất lượng lao động về mặt sức khoẻ thể chất và tâm hồn, về thái độ và phẩm chất cũng như năng lực lao động để tạo cho mỗi lao động có được năng lực và phẩm chất mới cao hon nữa thoả mãn nhu cầu ngày một cao của sự phát triển kinh té xã hội. Còn với doanh nghiệp, "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực" là việc tiến hành một số hoạt động từ đó đưa ra sự chuyển biến để chất lượng nguồn nhân lực nâng hon so với chất lượng nguồn nhân lực sẵn có.
Đó là sự gia tăng sức khoẻ thể chất; trình độ, kỹ năng và trí tuệ của năng lực lao động; thái độ và hành vi xã hội của người lao động ở mức độ nhất định mà người lao động có thể thực hiện những mục tiêu đề ra trong từng thời kỳ nhất định của một đất nước hay một cơ quan, doanh nghiệp. Theo Trần Tuyết Trinh (2022), nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tạo ra sức tiềm tàng của lao động qua đào tạo, bồi dưỡng, thường xuyên bồi dưỡng và đào tạo lại, rèn luyện toàn diện cả thể chất và trí tuệ, phát huy được khả năng sáng tạo trong quá trình hoạt động lao động qua việc tuyển chọn, sử dụng và đảm bảo điều kiện tại nơi làm việc (công cụ lao động có chất lượng và những chính sách đãi ngộ thoả đáng v.