Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty cố phần đầu tư Tam Đảo. Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty cố phần đầu tư Tam Đảo. Luan van 6 CHƢƠNG I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực 1. Khái niệm nhân tố con người Nói tới nhân tố con người là nói tới vai trò, vị trí của con người trong tổ chức quản lý xã hội thông qua hoạt động thực tiễn của nó, trước hết là sản xuất vật chất.
Nói tới nhân tố con người, cũng có nghĩa là nói đến tính chất, ý nghĩa của nó như là một động lực quan trọng nhất trong các nhân tố quan hệ với phát triển. Nhân tố con người là một nhân tố của xã hội thể hiện sức mạnh tổng hợp của chủ thể người khi trong quan hệ với khách thể là xã hội mà hoạt động thực tiễn của nó đem lại sự phát triển tiến bộ cho xã hội. Vì thế, nhân tố con người là toàn bộ những dấu hiệu riêng, những yếu tố, những mặt nói lên vai trò của con người như là chủ thể hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nhân tố con người bao hàm toàn bộ tư chất, năng khiếu, tài năng, phẩm chất ý chí của con người để nó đóng được vai trò là chủ thể hoạt động sáng tạo xây dựng xã hội (Tạ Ngọc Hải, 2012).
Nhân tố con người bao gồm các nội dung sau: Thứ nhất, đó là một tổng thể các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau nhưng liên kết chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và hoạt động của các giai tầng ấy bảo đảm cho sự phát triển tiến bộ của xã hội. Thứ hai, nhân tố con người được hiểu là những tiêu chí về số lượng, chất lượng, nói lên khả năng của con người, của cộng đồng người như là một tiềm năng cần bồi dưỡng cần khai thác và phát huy. Đó là tiêu chí về số lượng lao động, tình hình sức khỏe, trình độ học vấn nghề nghiệp chuyên môn. Thứ ba, đó là những tiêu chí về nhân cách về chức năng xã hội của con người.
Những tiêu chí này nói lên mức độ khả năng sáng tạo của cá nhân trong hệ thống các quan hệ xã hội, gồm các năng lực chuyên môn kỹ thuật được đào tạo lẫn thái độ lao động, ý thức xã hội chính trị và lập trường xã hội của giai cấp công nhân. Luan van 7 Các nội dung trên của nhân tố con người có quan hệ biện chứng với nhau. Những sai lầm nghiêm trọng của việc điều hành doanh nghiệp trong thời gian qua đều có nguyên nhân từ việc không tính đến một cách đầy đủ những nội dung của nhân tố con người. Do vậy, trên thực tế, dẫn đến việc các doanh nghiệp không phát huy được nguồn lực con người.
Vì vậy, việc nhận thức một cách toàn diện những nội dung của nhân tố con người có liên quan trực tiếp đến việc xác định được đầy đủ những điều kiện biện pháp thực tiễn mà quá trình quản lý kinh tế xã hội phải thực hiện nhằm nâng cao và phát huy nhân tố con người. Phát huy nhân tố con người chính là quá trình đào tạo bồi dưỡng làm tăng nhân tố con người về thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức; là quá trình khai thác yếu tố đó trong học tập lao động chiến đấu nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc. Nhân tố con người không khai thác không phát huy được là lãng phí lớn nhất. Vì vậy các doanh nghiệp, công ty phải từng bước cụ thể hóa đường lối chính sách nhằm khơi dậy và phát huy nhân tố con người.
Khái niệm nguồn nhân lực Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người của một quốc gia, vùng lãnh thổ, có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội. Với cách tiếp cận này, nguồn lực như một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn lực tài chính, nguồn lực trí tuệ,… Những nguồn lực này có thể huy động một cách tối ưu, tổng hợp để phát triển kinh tế, xã hội. Theo một cách tiếp cận khác thì nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, nguồn lao động (Trung tâm nghiên cứu phát triền nguồn nhân lực, 2002). Phát triển kinh tế xã hội bao gồm một hệ thống các “trụ cột”, mỗi một nhân tố trong hệ thống đó đều có vai trò riêng, trong đó nguồn lực con người nằm ở trung tâm hệ thống.
Bởi vì các nguồn lực tài chính nguồn lực vật chất khoa học công nghệ mà không được con người phát hiện khai thác thì nó vẫn chỉ tồn tại ở dạng tiềm tàng mà thôi. Chính con người thông qua hoạt động của mình làm phát triển các nguồn lực khác sử dụng nó để phát triển xã hội, do đó nguồn lực con người được coi là một thứ tài nguyên quý giá nhất, nguồn lực quan trọng nhất và là nguồn lực của mọi nguồn lực. Vì vậy, thực chất một chiến lược phát triển kinh, tế xã hội chính là chiến lược phát triển con người và vì con người. Luan van 8 Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực được lượng hóa một bộ phận dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có hay không làm việc.
Độ tuổi người lao động là giới hạn về những điều kiện cơ thể, tâm sinh lý xã hội mà con người tham gia vào quá trình lao động. Giới hạn độ tuổi lao động tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng quốc gia và từng thời kỳ nhất định (Bộ lao động - thương binh và xã hội, 1999). Ở Việt Nam thì lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm; những người ngoài độ tuổi lao động thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp. Nghĩa là không bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang đi học hay đang làm nội trợ trong gia đình; không có nhu cầu việc làm.
Độ tuổi lao động là từ 15 đến 60 tuổi với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ (Nguyễn Tiệp, năm 2005). Khái niệm nguồn nhân lực tại doanh nghiệp Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp do doanh nghiệp trả lương. Có thể hiểu, nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực ( Phan Văn Kha, 2007). Sức mạnh tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong một tổ chức thức chưa được phát huy rõ nếu họ không được động viên phối hợp tốt với nhau.
Vì vậy nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau. Họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được tổ chức quản lý tốt và động viên khuyến khích phù hợp (Nguyễn Văn Điềm). Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực. Nói cách khác là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật cơ cấu nghề nghiệp thành phần xã hội của nguồn nhân lực; trong đó trình độ học vấn kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh Luan van 9 giá phân loại chất lượng nguồn nhân lực (Trung tâm nghiên cức phát triển nguồn nhân lực, 2002).
Chất lượng của nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách là một khách thể vật chất đặc biệt, đồng thời là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp những nét đặc trưng phản ánh bản chất tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người. Khi nói tới chất lượng nguồn nhân lực là nói tới nguồn lực con người, nguồn lực lao động, không chỉ được biểu thị về số lượng mà còn biểu thị về chất lượng. Nó được thể hiện ở trình độ học vấn tay nghề kỹ năng nghiệp vụ của người lao động thể hiện người lao động đã được đào tạo thể hiện ở sức khỏe của người lao động.
Người lao động phải có sức khỏe tốt thì mới hoàn thành tốt công việc của mình được. Không những thế người lao động cần phải có đạo đức lối sống được thể hiện ở thái độ lao động trách nhiệm trong công việc mình làm. Trí tuệ với năng lực tinh thần và những phẩm chất tâm lý đóng vai trò quan trọng, quyết định năng suất hiệu quả và giá trị xã hội của lao động. Vì vậy trình độ học vấn, tay nghề của người lao động là quan trọng, là quyết định xong cũng không thể thiếu được ý thức đạo đức và sức khỏe của người lao động có thể nói chất lượng nguồn nhân lực được kết hợp bởi 3 yếu tố thể lực, trí lực và đạo đức lối sống.
Thể lực là trạng thái sức khỏe của con người khi biểu hiện ở sự phát triển sinh học, không có bệnh tật, có sức khỏe lao động trong hình thái lao động ngành nghề nào đó có sức khỏe để học tập và làm việc lâu dài. Thể lực yếu sẽ hạn chế rất lớn đến sự phát triển trí lực của cá nhân và cộng đồng xã hội nói chung. Trí lực là năng lực trí tuệ tinh thần, là trình độ phát triển trí tuệ, là học vấn chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ tay nghề, nó quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người. Nó càng có vai trò quyết định trong phát triển nguồn lực con người đặc biệt trong thời đại ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão.
Lối sống đạo đức là sự phản ánh những chuẩn mực đạo đức xã hội, những giá trị từ chuẩn đó phản ánh bản chất của xã hội, lý tưởng đạo đức của xã hội vươn tới, nhất là trong hoạt động trong lối sống nếp sống hàng ngày.