CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Các khái niệm về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực hành chính 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trình độ phát triển của nguồn nhân lực (NNL) là một trong những thước đo chủ yếu cho sự phát triển. Vì vậy, các nước đều rất coi trọng phát triển NNL. Trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 này, đã có nhiều quốc gia (như Nhật Bản, Singapore) tuy nghèo về tài nguyên thiên nhiên, nhưng do phát huy và sử dụng tốt NNL nên đã đạt được thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội.
Vậy, nguồn nhân lực được hiểu như thế nào? Hiện nay, khái niệm NNL được hiểu khác nhau phụ thuộc vào mục tiêu của từng tổ chức và từng người, cụ thể: - Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO, thì NNL là toàn bộ dân cư của một nước trong độ tuổi và có khả năng lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn nhân lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
[15, tr6] - Theo quan niệm của Liên hợp quốc, đứng trên góc độ xem xét,cơ quan này coi NNL theo phương diện chất lượng con người với vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội là yếu tố quan trọng, quyết định đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, đã cho rằng: NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có liên quan đến sự phát triển của đất nước. - Còn theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: NNL cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một 8 công việc nào đó [Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa – 2001]. Mặc dù có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau nhưng tựu chung lại thì các nhà khoa học đều thống nhất ở một số điểm sau: NNL là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Sự tồn tại và phát triển của một tổ chức phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực như: vốn, cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật, người lao động trong tổ chức.
Các yếu tố máy móc, công nghệ kỹ thuật, các thiết bị đều có thể mua được, thay thế và chế tạo được nhưng yếu tố con người thì không thể. Có thể khẳng định rằng NNL có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức. NNL được hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác tạo giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh trong tổ chức của những người lao động. Trên cơ sở những quan niệm về NNL ở trên, luận văn này tiếp cận khái niệm NNL như sau: NNL được hiểu là nguồn lực con người (bao gồm cả thể lực, trí lực và tâm lực) là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, NNL là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ sự phát triển và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia.
Với khái niệm này,cần chú ý các điểm sau: - NNL là nguồn lực con người (bao gồm cả trí lực, thể lực và tâm lực); - Là nguồnlực quan trọng nhất của sự phát triển KT – XH; - Là tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia.2 Khái niệm nguồn nhân lực hành chính Nguồn nhân lực hành chính: Nguồn nhân lực hành chính nhà nước là hệ thống cán bộ công chức hành chính. Có thể hiểu: nguồn nhân lực hành chính là tổng thể các tiềm năng lao động của những con người làm việc trong bộ máy 9 hành chính. Tiềm năng lao động của con người bao gồm toàn bộ sức lao động (vốn kiến thức, kĩ năng làm việc, trình độ chuyên môn, đặc điểm tâm lý, các mối quan hệ…) của con người sử dụng trong quá trình làm việc. Tiềm năng lao động trở thành khả năng hiện thực nếu nó được sử dụng và quản lý đúng đắn.
Ở nước ta hiện nay, nguồn nhân lực hành chính bao gồm toàn bộ tiềm năng lao động của các con người (gọi dưới tên gọi là cán bộ công chức) được Chính phủ sử dụng để thực thi chức năng hành pháp của Nhà nước.3 Vai trò của nguồn nhân lực hành chính Vai trò của nguồn nhân lực hành chính được thể hiện thông qua vai trò của các cá nhân và đội ngũ cán bộ, công chức hoạt động trong bộ máy hành chính. Xuất phát từ quan điểm cán bộ là nhân tố quyết định thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng, “là cái gốc của mọi công việc”, Đảng và Nhà nước ta luônluôn chăm lo, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức gắn với giải quyết nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Nếu có đội ngũ cán bộ, công chức vững mạnh ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đường lối, chủ trương mục đích quản lý của Chính phủ mới trở thành hiện thực và việc xây dựng đường lối chính trị đúng đắn- tạo cơ sở và điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi.
Quan hệ giữa đường lối nhiệm vụ chính trị với cán bộ công chức là mối quan hệ nhân quả. Đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực tốt mới có thể đề ra đường lối đúng, mới có thể cụ thể hoá, bổ sung hoàn chỉnh đường lối và thực hiện tốt đường lối. Không có đội ngũ cán bộ công chức quyết định sự thành bại của đường lối và nhiệm vụ chính trị của Nhà nước. Cán bộ, công chức là người đem chính sách pháp luật của nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời triển khai, bổ sung cho đúng đắn và phù hợp với thực tiễn.
Ở đây, vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ công chức như là cầu nối giữa Nhà nước, Chính phủ và quần chúng nhân dân. 10 Cán bộ, công chức là nhân tố chủ yếu, hàng đầu và là nhân tố “động” nhất của tổ chức. Cán bộ, công chức là người lập ra tổ chức và điều hành bộ máy tổ chức và chính những người cán bộ, công chức lại chịu sự chi phối, ràng buộc của tổ chức. Tổ chức buộc người cán bộ, công chức phải hành động theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định.
Tổ chức bộ máy khoa học và hợp lý sẽ nhân sức mạnh của cán bộ công chức lên gấp bội. Cán bộ, công chức chỉ có sức mạnh khi gắn với tổ chức và nhân dân. Tách rời khỏi tổ chức thì Cán bộ, công chức mất sức mạnh quyền lực và hiệu lực do tập thể tạo nên.2 Chất lượng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 1.1 Chất lượng nguồn nhân lực hành chính Khi đề cập vấn đề chất lượng cán bộ, công chức, người ta nói đến trình độ đào tạo và năng lực làm việc của họ. Trình độ đào tạo của cán bộ, công chức thể hiện ở bằng cấp, chứng chỉ, chứng nhận trình độ đã được đào tạo.
Trình độ đào tạo thể hiện cấp độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn cá nhân thu nhận được từ khoá đào tạo. Như vậy, trình độ đào tạo cho biết người công chức đó được đào tạo như thế nào, với chuyên môn gì, thời gian bao lâu và bằng cấp như thế nào. Thông tin từ “trình độ đào tạo” cho ta biết khả năng có thể thực hiện được công việc mang tính nghề nghiệp mà cá nhân được đào tạo, là một trong những tiêu chuẩn đầu tiên để làm một loại công việc chuyên môn được đào tạo hay đảm trách một vị trí công việc, một chức danh lãnh đạo quản lý nào đó. Tuy nhiên, trình độ đào tạo cho biết không nhiều về năng lực thực hiện công việc thực tế của cá nhân, đó chỉ là yêu cầu đầu tiên để công chức đảm nhiệm công việc chuyên môn tương ứng.
Năng lực mà công chức có được để làm được một việc, để xử lý một tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định. Nói cách khác, năng lực là khả năng sử dụng các “tài sản”, tiềm lực của một con người như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thể trong một điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Các nhà nghiên cứu cho 11 rằng, năng lực làm việc gồm có các thành tố như kiến thức, kỹ năng thái độ. Năng lực làm việc ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công việc và là một trong các yếu tố chính tác động đến chất lượng công việc: năng lực thực hiện công việc động cơ và môi trường tổ chức công việc.
Hiện nay, ở nước ta, có thể nói, các yếu tố nêu trên đều ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng thực hiện công việc của cán bộ, công chức. Họ làm việc không có cơ chế khuyến khích thích hợp, chưa có động lực thúc đẩy vì nhân dân phục vụ .2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính Chất lượng nguồn nhân lực hành chínhđược thể hiện thông qua hoạt động của bộ máy chính quyền cấp phường, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp phường.