Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội hiện đại, du lịch đã trở thành nhu cầu thiết yếu và là ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia. Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương – chủ thể vừa đóng vai trò nền tảng, vừa là động lực và đối tượng thụ hưởng lợi ích, đặc biệt tại các vùng kinh tế khó khăn. Cộng đồng không chỉ trực tiếp khai thác tài nguyên mà vốn tri thức bản địa, phong tục tập quán và di sản văn hóa của họ còn là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn cốt lõi thu hút khách du lịch.
Mù Cang Chải là huyện vùng cao phía Tây tỉnh Yên Bái sở hữu tiềm năng du lịch cộng đồng phong phú với cảnh quan ruộng bậc thang và bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số đặc sắc. Dù hoạt động du lịch những năm gần đây đã có những chuyển biến tích cực, thực tiễn tổ chức du lịch cộng đồng tại địa phương vẫn gặp nhiều rào cản:
- Sự tham gia của người dân địa phương còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng.
- Du lịch chưa thực sự trở thành sinh kế tạo thu nhập chính, việc cải thiện đời sống cộng đồng còn chậm.
Từ bối cảnh thực tiễn trên, tác giả Vương Thị Thanh Thảo đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Mù Cang Chải, Yên Bái".
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển du lịch cộng đồng ở Mù Cang Chải thông qua việc đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực và hoạt động du lịch cộng đồng tại địa phương.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch.
- Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng nguồn nhân lực (lao động là cộng đồng địa phương) phục vụ phát triển du lịch cộng đồng tại Mù Cang Chải, Yên Bái.
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu chất lượng lao động là cộng đồng địa phương, các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch cộng đồng.
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu và tiến trình nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn 2020 – 2023 (kết hợp các chuỗi số liệu thống kê giai đoạn 2018 – 2021).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm
Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm, căn cứ pháp lý và mô hình đánh giá học thuật bao gồm:
- Khái niệm Du lịch cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT): Dẫn chiếu Khoản 15 Điều 3 Luật Du lịch 2017 ("Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi"); kết hợp định nghĩa của các tổ chức và nhà nghiên cứu quốc tế như Pachamama, Istituto Oikos (1996), Responsible Ecological Social Tours (REST, 2007), Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas (2009).
- Khung phân loại nguồn nhân lực du lịch: Phân định nhân lực trực tiếp (quản lý nhà nước, đào tạo, nghiên cứu, kinh doanh dịch vụ du lịch) và nhân lực gián tiếp (hàng không, hải quan, vận tải, y tế, văn hóa...); phân chia nhân lực hiện tại và nhân lực tiềm năng.
- Khung lý thuyết về chất lượng nguồn nhân lực: Tổng hợp quan điểm của Vũ Thị Mai và Mai Quốc Chánh, tiếp cận chất lượng nhân lực trên 3 trụ cột cấu thành:
- Thể lực: Đánh giá tình trạng sức khỏe theo định nghĩa của WHO, Thông tư 13/2007/TT-BYT và tiêu chuẩn phân loại 5 cấp sức khỏe theo Quyết định số 1613/QĐ-BYT của Bộ Y tế.
- Tâm lực (Ý thức, văn hóa, thái độ nghề nghiệp): Ứng dụng từ điển năng lực thái độ với 6 chỉ số đo lường chuẩn mực (tuân thủ mệnh lệnh cấp trên, chủ động trong công việc, trung thực, tinh thần hợp tác với đồng nghiệp, khả năng học hỏi và phát triển, động lực làm việc).
- Trí lực: Trình độ học vấn, trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực ngoại ngữ, tin học và top 10 kỹ năng mềm bổ trợ.
- Thang đo mức độ tham gia của cộng đồng: Sử dụng thang đo 7 bậc của Jules N. Pretty (Pretty’s Ladder of Participation): (1) Tham gia thụ động, (2) Tham gia cung cấp thông tin, (3) Tham gia tư vấn, (4) Tham gia khuyến khích vật chất, (5) Tham gia chức năng, (6) Tham gia tương tác, (7) Tham gia chủ động.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ tài liệu, giáo trình chuyên ngành, báo cáo của cơ quan quản lý nhà nước và cổng thông tin điện tử.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Tổng hợp và xử lý các số liệu thống kê kinh tế - xã hội, lưu lượng khách du lịch, doanh thu du lịch và hiện trạng lao động tại tỉnh Yên Bái và huyện Mù Cang Chải.
Nguồn dữ liệu
- Báo cáo số liệu thống kê từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái.
- Dữ liệu điều tra năm 2019 trên 70 hộ gia đình làm du lịch tại địa phương phân theo các nhóm mức sống.
- Kết quả khảo sát mức độ tham gia của 350 người dân địa phương tại Mù Cang Chải theo thang đo Pretty (nguồn xử lý của tác giả Nguyễn Thị Thanh Kiều, 2021).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch
Chương này chuẩn hóa hệ thống lý luận nền tảng cho đề tài:
- Bản chất và điều kiện phát triển CBT: Du lịch cộng đồng khởi nguồn từ du lịch làng bản thập niên 1970. Tác giả chỉ rõ 7 điều kiện tiên quyết để phát triển CBT gồm: tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), yếu tố cộng đồng dân cư, nhu cầu khách du lịch, khả năng tiếp cận điểm đến, khả năng cung ứng dịch vụ hạ tầng kỹ thuật, sự hỗ trợ của Nhà nước/tổ chức phi chính phủ và công tác xúc tiến quảng bá.
- Vai trò đa chiều của du lịch cộng đồng: Đóng góp kinh tế (tạo việc làm, tăng thu nhập, hạn chế dòng vốn rò rỉ), nâng cao hạ tầng xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn văn hóa bản địa, chia sẻ giá trị công bằng và trao quyền cho phụ nữ.
- Tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực du lịch: Khẳng định nhân tố con người giữ vai trò quyết định chất lượng dịch vụ du lịch. Khung đánh giá bao gồm thể lực (khám thể lực, lâm sàng, cận lâm sàng), tâm lực (thái độ chiếm 75% hiệu quả làm việc) và trí lực (học vấn, chuyên môn, kỹ năng mềm, ngoại ngữ và công nghệ thông tin).
- Đặc điểm và vai trò của lao động cộng đồng: Lao động bản địa là lực lượng nòng cốt tham gia vào toàn bộ chu trình từ lập quy hoạch đến cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên, nhóm lao động này có xuất phát điểm thuần nông, tính tự cung tự cấp cao, dẫn đến tính chuyên môn thấp và hạn chế về ngoại ngữ.
Chương 2: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Mù Cang Chải, Yên Bái
Chương 2 phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch, kết quả hoạt động du lịch và thực trạng nguồn nhân lực tại địa bàn:
- Tổng quan địa bàn: Mù Cang Chải nằm dưới chân dãy Hoàng Liên Sơn, diện tích 1.199 km², độ cao trung bình 1.000m so với mực nước biển; gồm 1 thị trấn và 13 xã (Kim Nọi, Hồ Bốn, Chế Tạo, Khao Mang, Dế Su Phình, Chế Cu Nha, Cao Phạ, Púng Luông, Nậm Khắt, Mồ Dề, Nậm Có, La Pán Tẩn, Lào Chải). Dân số chủ yếu là người Mông (chiếm 91%), người Thái và người Kinh.
- Sản phẩm du lịch cộng đồng đặc trưng:
- Du lịch làng bản và văn hóa ẩm thực tại Bản Lìm Mông.
- Mô hình lưu trú sinh thái Homestay Dình Khiêm (xã Lao Chải, công suất phục vụ khoảng 25 khách).
- Trị liệu chăm sóc sức khỏe bằng tắm lá thuốc, xông hơi tại xã Cao Phạ.
- Nghệ thuật trình diễn dân gian múa khèn Mông.
- Du lịch nông nghiệp mùa vàng tại Ruộng bậc thang La Pán Tẩn (quy mô 700 ha) và hoạt động bay dù lượn tại đèo Khau Phạ vào mùa nước đổ (tháng 5-6) và mùa lúa chín (tháng 9-10).
- Làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống bản Dề Thàng (xã Chế Cu Nha) được UBND tỉnh cấp bằng công nhận năm 2019 với 35 hội viên phụ nữ.
- Thị trường khách và doanh thu:
- Khách nội địa chiếm trên 80% tổng lượt khách (chủ yếu từ Đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi Bắc Bộ). Khách quốc tế đến từ Pháp, Anh, Đức, Mỹ, Canada, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.
- Năm 2019, Mù Cang Chải đón 212.000 lượt khách (chiếm 45% tổng lượt khách toàn tỉnh Yên Bái); doanh thu du lịch đạt 3,8 tỷ đồng (chiếm 60% tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh 4,7 tỷ đồng).
- Toàn huyện có 91 cơ sở lưu trú (26 nhà nghỉ, 65 hộ làm du lịch cộng đồng với hơn 900 buồng/giường, đáp ứng trên 2.200 lượt khách/đêm; mùa cao điểm có thêm hơn 40 hộ cho thuê thời vụ phục vụ trên 2.000 khách/đêm). Đến giai đoạn khảo sát mở rộng, toàn huyện đạt 103 cơ sở lưu trú và 71 nhà hàng, phục vụ hơn 2.700 khách/ngày.
- Thực trạng quy mô và cơ cấu lao động:
- Tính đến hết năm 2020, toàn huyện có khoảng 2.200 người tham gia vào hoạt động du lịch. Trong đó, nhân lực trực tiếp có khoảng 630 người, nhưng chỉ có 88 người đã qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch (chiếm 14,7%); tỷ lệ có trình độ ngoại ngữ rất thấp (khoảng 0,5%).
Bảng 1: Cơ cấu số lao động tham gia hoạt động du lịch cộng đồng theo nhóm hộ (Điều tra 2019)
| Quy mô lao động |
Nhóm hộ khá (42 hộ) - Số hộ |
Tỷ lệ (%) |
Nhóm hộ trung bình (20 hộ) - Số hộ |
Tỷ lệ (%) |
Nhóm hộ nghèo/cận nghèo (8 hộ) - Số hộ |
Tỷ lệ (%) |
| 1 – 2 lao động |
25 |
59,90 |
15 |
72,20 |
5 |
71,34 |
| 3 – 4 lao động |
15 |
30,36 |
5 |
27,78 |
3 |
28,66 |
| > 5 lao động |
2 |
9,74 |
0 |
0,00 |
0 |
0,00 |
| Tổng cộng |
42 |
100 |
20 |
99,98 |
8 |
100 |
- Đánh giá mức độ tham gia theo thang đo Pretty:
Bảng 2: Mức độ tham gia của cộng đồng trong phát triển hoạt động du lịch (n = 350)
| Bậc thang tham gia (Pretty) |
Hoạt động bảo vệ tài nguyên du lịch (%) |
Hoạt động cung ứng dịch vụ và lập kế hoạch (%) |
Hoạt động quảng bá du lịch (%) |
| 1. Tham gia thụ động |
28,0 |
8,0 |
24,0 |
| 2. Tham gia cung cấp thông tin |
34,9 |
9,7 |
38,3 |
| 3. Tham gia tư vấn |
16,0 |
12,3 |
8,9 |
| 4. Tham gia khuyến khích vật chất |
9,4 |
54,6 |
10,0 |
| 5. Tham gia chức năng |
7,7 |
10,0 |
6,6 |
| 6. Tham gia tương tác |
4,0 |
4,9 |
7,7 |
| 7. Tham gia chủ động |
0,0 |
0,6 |
4,6 |
Phân tích dữ liệu:
- Trong hoạt động bảo vệ tài nguyên, mức độ tham gia tập trung chủ yếu ở bậc 2 (cung cấp thông tin) chiếm 34,9% (122/350 người) và bậc 1 (thụ động) chiếm 28,0%; hoàn toàn không có người dân tham gia ở bậc 7 (chủ động).
- Trong cung ứng dịch vụ và lập kế hoạch, tỷ lệ tham gia cao nhất ở bậc 4 (khuyến khích vật chất) đạt 54,6%, trong khi bậc 7 chỉ đạt 0,6%.
- Trong quảng bá du lịch, người dân chủ yếu dừng ở bậc 2 (38,3%) và bậc 1 (24,0%), bậc chủ động chỉ đạt 4,6%.
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Mù Cang Chải, Yên Bái
Chương 3 xác định mục tiêu, định hướng và đề xuất 4 nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực:
- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực: Quy hoạch tổng thể mạng lưới phát triển nhân lực du lịch cộng đồng, gắn kết quả bồi dưỡng kỹ năng với các tiêu chuẩn nghề du lịch.
- Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo tại địa phương, liên kết đào tạo tại chỗ: Phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các trường chuyên nghiệp (như Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch) để tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ lưu trú, vệ sinh an toàn thực phẩm, kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ ứng dụng tại chỗ cho người dân.
- Khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực là cộng đồng địa phương, thu hút người dân tham gia hoạt động du lịch: Đa dạng hóa các nghề truyền thống (nấu rượu thóc men lá tại La Pán Tẩn, chế tác khèn Mông tại Nậm Khắt, Púng Luông, Mồ Dề; rèn đúc thủ công tại Kim Nọi, Chế Cu Nha; dệt thổ cẩm); mở rộng các đội văn nghệ quần chúng và bồi dưỡng đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm là người bản địa.
- Thu hút các dự án, dành một phần lợi nhuận từ du lịch để hỗ trợ cộng đồng phát triển năng lực: Trích lập quỹ phát triển du lịch từ nguồn thu phí tham quan, dịch vụ để tái đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực tự quản và hỗ trợ các hộ nghèo tiếp cận vốn vay phát triển homestay.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Tổng hợp hệ thống dữ liệu toàn diện về du lịch Mù Cang Chải giai đoạn 2019 – 2021: lượng khách năm 2019 đạt 212.000 lượt (chiếm 45% toàn tỉnh), doanh thu 3,8 tỷ đồng (chiếm 60% toàn tỉnh); hệ thống lưu trú phát triển với 91 cơ sở (65 hộ du lịch cộng đồng, hơn 900 buồng/giường).
- Định lượng chi tiết thực trạng nguồn lao động: Toàn huyện có khoảng 2.200 người làm du lịch, trong đó 630 nhân lực trực tiếp nhưng chỉ 14,7% (88 người) qua bồi dưỡng nghiệp vụ và tỷ lệ có trình độ ngoại ngữ chỉ dừng ở mức 0,5%.
- Đánh giá cơ cấu tham gia theo nhóm hộ: 59,9% hộ khá, 72,2% hộ trung bình và 71,34% hộ nghèo/cận nghèo chỉ có 1 - 2 lao động tham gia hoạt động du lịch.
- Chỉ rõ mức độ tham gia của cộng đồng theo thang Pretty: Người dân chủ yếu tham gia thụ động và cung cấp thông tin (bảo vệ tài nguyên bậc 2 chiếm 34,9%, bậc 7 là 0%; cung ứng dịch vụ bậc 4 chiếm 54,6%, bậc 7 chỉ có 0,6%).
Giải pháp và kiến nghị đề xuất
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước; Thiết lập mạng lưới đào tạo tại chỗ; Khai thác hiệu quả lực lượng lao động gắn với bảo tồn 4 làng nghề truyền thống và các đội văn nghệ bản địa; Huy động nguồn lực dự án kết hợp tái đầu tư doanh thu du lịch để phát triển năng lực cộng đồng.
Đóng góp của tác giả
- Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa phát triển du lịch cộng đồng và chất lượng nguồn nhân lực tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Cung cấp bức tranh thực trạng chân thực với các số liệu khảo sát thực tế tại huyện Mù Cang Chải, chỉ rõ các "điểm nghẽn" về kỹ năng, ngoại ngữ và mức độ trao quyền cho cộng đồng địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Số liệu thống kê về lượng khách và doanh thu du lịch chịu sự gián đoạn và biến động lớn do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 trong giai đoạn 2020 – 2021.
- Nghiên cứu chủ yếu dựa trên các phương pháp thu thập, phân tích số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát từ các công trình trước đó, chưa triển khai được các mô hình định lượng phức hợp để đo lường mức độ tác động của từng kỹ năng lao động đến năng lực cạnh tranh điểm đến.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Cần mở rộng khảo sát điều tra xã hội học độc lập trên cỡ mẫu lớn hơn về các chỉ số sức khỏe, tâm lực (thái độ) và trình độ nghiệp vụ của cộng đồng sau giai đoạn phục hồi du lịch.
- Nghiên cứu thiết kế các chương trình đào tạo nghề du lịch đặc thù, tích hợp tiếng nói, chữ viết và phong tục tập quán của người Mông để nâng cao hiệu quả đào tạo tại chỗ.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Việt Nam học, Du lịch học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quản lý văn hóa và Kinh tế phát triển.
- Nội dung giá trị:
- Hệ thống hóa khung lý thuyết đánh giá chất lượng nhân lực dựa trên Thể lực – Tâm lực – Trí lực và thang đo 7 bậc tham gia Pretty.
- Nguồn tư liệu thực chứng phong phú về các điểm đến, sản phẩm du lịch bản địa (ruộng bậc thang La Pán Tẩn, dù lượn Khau Phạ, dệt thổ cẩm Dề Thàng, nghề làm khèn Mông, nấu rượu thóc men lá).
- Phương pháp phân tích thực trạng tham gia du lịch của các nhóm hộ gia đình tại vùng cao Tây Bắc.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng khung tiêu chí nào để đánh giá toàn diện chất lượng nguồn nhân lực du lịch?
Tác giả đánh giá chất lượng nhân lực dựa trên 3 tiêu chí cốt lõi:
- Thể lực: Tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần theo chuẩn WHO, Thông tư 13/2007/TT-BYT và phân loại 5 cấp sức khỏe theo Quyết định 1613/QĐ-BYT.
- Tâm lực: Đánh giá thái độ, ý thức và văn hóa lao động thông qua 6 chỉ số (tuân thủ mệnh lệnh, chủ động, trung thực, tinh thần hợp tác, khả năng học hỏi/phát triển, động lực làm việc).
- Trí lực: Trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng mềm, năng lực ngoại ngữ và tin học.
2. Quy mô và trình độ của nguồn nhân lực du lịch tại huyện Mù Cang Chải đạt mức nào theo số liệu văn bản?
Tính đến hết năm 2020, toàn huyện có khoảng 2.200 người tham gia hoạt động du lịch, trong đó nhân lực trực tiếp chiếm khoảng 630 người. Tuy nhiên, chỉ có 88 lao động trực tiếp được bồi dưỡng qua các lớp nghiệp vụ du lịch (đạt tỷ lệ 14,7%) và tỷ lệ nhân lực du lịch có trình độ ngoại ngữ chỉ đạt khoảng 0,5%.
3. Cơ cấu số lượng lao động tham gia du lịch cộng đồng phân theo nhóm hộ có đặc điểm gì?
Theo số liệu điều tra 70 hộ năm 2019:
- Nhóm hộ có 1 – 2 lao động tham gia du lịch chiếm tỷ lệ áp đảo ở cả 3 nhóm hộ: hộ khá chiếm 59,90% (25 hộ), hộ trung bình chiếm 72,20% (15 hộ), hộ nghèo/cận nghèo chiếm 71,34% (5 hộ).
- Nhóm hộ có 3 – 4 lao động: hộ khá chiếm 30,36% (15 hộ), hộ trung bình chiếm 27,78% (5 hộ), hộ nghèo/cận nghèo chiếm 28,66% (3 hộ).
- Quy mô từ 5 lao động trở lên chỉ xuất hiện ở nhóm hộ khá với 9,74% (2 hộ), hoàn toàn không có ở nhóm hộ trung bình và hộ nghèo.
4. Theo thang đo Pretty, mức độ tham gia của người dân Mù Cang Chải vào hoạt động bảo vệ tài nguyên diễn ra như thế nào?
Kết quả khảo sát 350 người dân cho thấy mức độ tham gia bảo vệ tài nguyên còn rất thấp: đa số tập trung ở bậc 2 (tham gia cung cấp thông tin) với 34,9% (122 người) và bậc 1 (tham gia thụ động) với 28,0%. Tỷ lệ tham gia ở bậc 7 (tham gia chủ động) đạt 0%, phản ánh người dân chưa thực sự được trao quyền và chưa chủ động trong công tác quản lý tài nguyên.
5. Chính quyền địa phương đã có những chính sách hỗ trợ cụ thể nào để thúc đẩy du lịch cộng đồng tại Mù Cang Chải?
Năm 2014, huyện đã hỗ trợ các hộ dân tại bản Thái Kim Nọi và xã La Pán Tẩn vay 20 triệu đồng không lãi suất trong 2 năm để sửa nhà và xây dựng công trình vệ sinh. Bên cạnh đó, huyện mở 3 lớp tiếng Anh, phối hợp với Sở Ngoại vụ mở 1 lớp tiếng Pháp, đồng thời tổ chức tập huấn kỹ năng giao tiếp và đón tiếp khách du lịch cho người dân bản địa.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Vương Thị Thanh Thảo đã giải quyết trọn vẹn nhiệm vụ nghiên cứu thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng và chất lượng nguồn lao động dịch vụ. Dựa trên các số liệu thực chứng giai đoạn 2019 – 2021, công trình đã phản ánh chân thực bức tranh du lịch Mù Cang Chải, đồng thời chỉ ra những hạn chế căn bản về tỷ lệ đào tạo chuyên môn (14,7%) và ngoại ngữ (0,5%) của lao động địa phương. Bốn nhóm giải pháp được đề xuất bám sát đặc thù văn hóa - xã hội vùng cao, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản trị và đào tạo nhân lực du lịch tại địa phương.