CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TRONG CỤM CÔNG NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Lao động Theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam 2013, nguồn lao động là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động có việc làm hoặc thất nghiệp, đang đi học, làm nội trợ trong gia đình hay chưa có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (những người nghỉ việc hoặc nghỉ hưu trước tuổi theo quy định của Bộ Luật lao động) (Quốc hội, 2013). Nguồn lao động được đánh giá qua khái niệm lực lượng lao động.
Theo quan niệm của tổ chức lao động thế giới ILO: lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp. Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân lực hay nguồn lực con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó, lực lượng lao động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp). Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng không có nhu cầu lao động (Bùi Văn Nhơn, 2006).
Nguồn lao động có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế quốc dân cũng như đối với sự phát triển sản xuất nông nghiệp. Bởi vì lao động tạo ra của cải và là lực lượng lao động chính trong xã hội, lao động là tầng lớp phát triển của xã hội. Học thuyết giá trị của Adam Smith cho rằng lao động là nguồn gốc giá trị của hàng hoá. Tức là giá trị của hàng hoá do lao động trừu tượng kết tinh lại trong hàng hoá, do đó trong quá trình trao đổi, cái quyết định giá trị và theo đó, là giá cả của một loại hàng hoá nào đó là lao động của người sản xuất bỏ trực tiếp vào hàng hoá.Mác: “Lao động là hoạt động có mục đích để sáng tạo ra những giá trị sử dụng và lao động là sự kết hợp giữa sức lao động của con người và tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động”.Mác đã nói “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó bằng sức lao động 5 của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với tự nhiên”.
Theo Tổ chức Lao động khoa học quốc tế: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của xã hội loài người” (Bùi Văn Nhơn, 2006). Theo Bộ luật Lao động: “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần của xã hội” (Quốc hội, 2013). Vậy lao động được hiểu là hoạt động có mục đích và quan trọng nhất của con người, để tạo ra của cải vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của bản thân, gia đình và toàn xã hội. Khái niệm về chất lượng lao động Chất lượng lao động có vai trò to lớn đối với công cuộc đẩy mạnh CNH - HĐH của đất nước.
Đồng thời nó cũng là nhân tố tác động tới quá trình phát triển của các doanh nghiệp. Chất lượng lao động được đánh giá theo những nhóm chỉ tiêu chủ yếu như: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, sức khoẻ, các yếu tố về tâm lý…Như vậy, chất lượng lao động thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của người lao động. Chất lượng lao động là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống người lao động trong doanh nghiệp nhất định (Trần Khánh Đức, 2012) Chất lượng lao động là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngươi lao động. Hay chất lượng lao động có thể được hiểu là trạng thái nhất định của người lao động thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của người lao động (Trần Khánh Đức, 2012).
Theo Bùi Văn Nhơn (2006) giải thích thì: Chất lượng lao động gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội trong đó: “Thể lực của người lao động: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần”, “Trí lực của người lao động: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động” “Phẩm chất tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao …”. Khái niệm về nâng cao chất lượng lao động 6 Nâng cao chất lượng lao động là một nội dung quan trọng của phát triển lao động, đó là hoạt động: nâng cao về thể lực trí tuệ, đạo đức, năng lực, kỹ năng, thẩm mỹ.của người lao động” và sự “phát triển chất lượng lao động được tác động, chi phối bởi những yếu tố sức khỏe và dinh dưỡng, giáo dục – đào tạo, giá trị văn hóa truyền thống và môi trường sống”. Đối với cá nhân người lao động thì nâng cao chất lượng lao động là tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng sự phát triển kinh tế xã hội. Đối với tổ chức, doanh nghiệp thì nâng cao chất lượng nguồn lao động chỉ việc thực hiện một số hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi về chất lượng nguồn lao động tăng lên so với chất lượng nguồn lao động hiện có.
Đó là sự tăng cường sức mạnh, kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất, năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ đặt ra trong những giai đoạn phát triển của một quốc gia, một tổ chức, doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng lao động, về cơ bản được hiểu giá trị cho con người trên các mặt phẩm chất đạo đức, thể chất, năng lực, thẩm mỹ. Thông qua các chính sách phát triển nâng cao chất lượng lao động giúp con người có những năng lực, phẩm chất mới, cao hơn để có thể hoàn thành tốt hơn mục tiêu của tổ chức và của chính bản thân họ (Trần Thị Thu Phương, 2016). Đặc điểm và phân loại chất lượng lao động trong cụm công nghiệp 1.
Đặc điểm chất lượng lao động trong cụm công nghiệp a. Tính chất công việc Nếu như trước đây, nguồn lao động nhiều và rẻ được xem là thế mạnh hàng đầu trong cụm công nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay thực hiện CNH – HĐH hướng về xuất khẩu thì rất cần những người lao động am hiểu, có thể thao tác thành thục các động tác trên dây chuyền công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động. Sản phẩm của các doanh nghiệp đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao nên lao động quản lý được thuê trong Cụm công nghiệp phải là những lao động có trình độ, kinh nghiệm làm việc và đòi hỏi có năng lực cao (Vũ Thị Mai Hiên, 2018).
Trình độ tay nghề 7 Việc chuyển đổi, nâng cao tay nghề cho người lao động là một nhu cầu tất yếu mà các doanh nghiệp phải làm và bản thân người lao động cũng phải xác định đây là việc làm hết sức thường xuyên, nghiêm túc. Có như vậy, người lao động mới tự giữ được mình trong doanh nghiệp. Những bất cập về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động trong cụm công nghiệp hiện nay là một trở ngại không nhỏ cho sự phát triển kinh tế xã hội, bài toán này không dễ khắc phục trong khoảng thời gian ngắn, nó đòi hỏi phải luôn luôn chú trọng đúng mức cho việc nâng cao chất lượng lao động trong các khu, cụm công nghiệp (Vũ Thị Mai Hiên, 2018). Quan hệ lao động Quan hệ lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng và thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện bình đẳng, thể hiện bằng các hợp đồng lao động cá nhân và thỏa ước lao động tập thể.
Quan hệ lao động ở các cụm công nghiệp được xác định như sau: - Là quan hệ qua lại giữa người lao động và người sử dụng lao động. - Chịu sự điều chỉnh về mặt pháp lý và những can thiệp trực tiếp khi cần thiết của Nhà nước. - Quan hệ lao động diễn ra trong tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất – kinh doanh, và phần lớn diễn ra trong môi trường công nghiệp (Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Văn Diềm, 2012). Thời gian làm việc Đối với những công ty đã phát triển mạnh, nhìn chung người lao động có việc làm đều đặn.
Thông thường người lao động làm việc từ 8 - 10 giờ trong ngày (theo ca hoặc theo giờ hành chính tùy từng doanh nghiệp). Những công ty chưa phát triển ổn định, sản xuất cầm chừng mang tính thời vụ, thời gian làm việc bình quân của người lao động rất thấp từ 4 - 6 giờ trong ngày (Nguyễn Thanh, 2016). Thu nhập của người lao động Đối với lao động trực tiếp và gián tiếp, công lao động được đánh giá theo thỏa thuận, việc thanh toán và trả công cho người lao động theo quy định của pháp luật. Mức thù lao của người lao động phần lớn do chủ doanh nghiệp quyết định, thường 8 tương xứng với hao phí sức lao động thực tế của người lao động bỏ ra (Cảnh Chí Hoàng, 2012).
Phân loại chất lượng lao động Theo Lee Myung-Bak (2012) Phân loại lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc quy hoạch lao động, phục vụ trực tiếp cho việc tính toán, lập dự toán cho việc tính toán chi phí lao động trực tiếp, gián tiếp. Có nhiều cách phân loại lao động có mục đích, ý nghĩa và yêu cầu quản lý khác nhau. Căn cứ vào tính chất công việc mà người lao động đảm nhận, lao động của doanh nghiệp cũng như của từng bộ phận trong doanh nghiệp được chia thành 2 loại: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp - Lao động trực tiếp: gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động SXKD tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định.