chương I của Luật CBCC, cán bộ và công chức được hiểu như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung 6 ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CBCC và luật viên chức, công chức Việt Nam ngày 25 tháng 11 năm 2019 được hiểu là: “công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Như vậy, công chức tại Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan Hành chính nhà nước như một số nước trên thế giới, mà còn bao gồm những người làm việc ở các cơ quan của Đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ) Việt Nam; các tổ chức Chính trị xã hội từ cấp trung ương đến cấp huyện. Phân loại CBCC Các CBCC được phân loại theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên CBCC đều có một cách phân loại chung đó là căn cứ theo trình độ giáo dục, chuyên môn của mình.
Căn cứ theo cách thức phân loại này, CBCC được chia thành: (1) tốt nghiệp đại học, trên đại học; (2) tốt nghiệp cao đẳng; (3) tốt nghiệp trung cấp; (4) sơ cấp; (5) nghề; (6) và không có nghề (tạp vụ) 1. Phân loại cán bộ Cán bộ theo những góc độ, mục tiêu xem xét khác nhau được chia thành những nhóm khác nhau, như: Xét về loại hình, cán bộ có thể được chia thành: cán bộ Đảng, đoàn thể; cán bộ nhà nước; cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế; cán bộ khoa học và kỹ thuật. Xét về tính chất, chức năng và nhiệm vụ, cán bộ được phân thành: nhóm lãnh đạo, quản lý; nhóm chuyên gia; và nhóm công chức, viên chức. 7 Thứ nhất là nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý bao gồm những người giữ chức vụ và trách nhiệm điều hành trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đây là những người có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, họ có vai trò quyết định và định hướng điều khiển hoạt động của cả bộ máy. Thứ hai là nhóm cán bộ chuyên gia. Cán bộ chuyên gia là những người giỏi một nghề, một ngành cụ thể.
Cán bộ chuyên gia là những người không chỉ có trình độ lý thuyết cao, năng lực hành động thực tiễn, mà họ còn có năng lực nghiên cứu, sáng tạo, giải quyết một vấn đề lý luận hay thực hành. Thứ ba là nhóm công chức, viên chức. Công chức, viên chức bao gồm những người được tuyển dụng để trực tiếp thực thi các công việc hàng ngày của cơ quan, tổ chức, được hưởng lương theo ngạch, bậc, trình độ và chức vụ. Đây là nhóm có số lượng đông đảo nhất trong toàn bộ đội ngũ CBCC.
Phân loại công chức Căn cứ theo mục 1 điều 32 của Luật CBCC ngày 13 tháng 11 năm 2008 thì công chức được phân phân chia thành: công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị- xã hội; công chức trong cơ quan nhà nước; công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp. Căn cứ theo ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân chia thành: (1) loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; (2) loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; (3) loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; (4) loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương hoặc nhân viên; (5) và loại đối với ngạch. Căn cứ theo vị trí công tác, công chức được phân chia thành: (1) công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; (2) công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Đặc điểm, vai trò của đội ngũ CBCC cấp huyện 1.
Đặc điểm của đội ngũ CBCC cấp huyện CBCC là những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một chức danh thường xuyên trong các công sở của Nhà nước, tham gia trực tiếp vào bộ máy của nền hành chính quốc gia. Các CBCC là những người trưởng thành về mặt xã hội- thể hiện trong cuộc sống riêng tư của họ, biểu hiện ở giá trị sản phẩm lao động của họ được xã hội công nhận. CBCC nuôi sống bản thân và gia đình họ bằng sức lao động của chính mình. Ngoài ra, CBCC còn trưởng thành về thể chất- biểu hiện qua việc tự làm chủ hành vi, thái độ và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là một công dân, một công chức hành chính.
Nói cách khác, CBCC là những người phát triển về cả mặt thể chất và về mặt xã hội. CBCC là những người có vị thế xã hội, là những người đang giữ chức vụ hoặc trách nhiệm nhất định theo trình độ đào tạo. Họ được xếp vào ngạch bậc tương ứng trong hệ thống hành chính. Như vậy, CBCC để thực hiện quyền lực Nhà nước thống nhất quản lý toàn xã hội họ cần có một vị thế nhất định trong xã hội.
Ngoài ra, CBCC là những người tích lũy kinh nghiệm sống phụ thuộc vào lĩnh vực mà họ hoạt động. Vai trò của đội ngũ CBCC cấp huyện CBCC cấp huyện là một trong những bộ phận quan trọng nhất của bộ máy chính quyền cấp huyện. CBCC cấp huyện có những vai trò rất quan trọng. Thứ nhất, CBCC chuyên môn nghiệp vụ cấp huyện là người đại diện cho nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền mà mình được giao.
Thứ hai, CBCC là gốc của mọi công việc do vậy họ là người biến chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước thành hiện thực. Thông qua sử dụng quyền lực nhà nước, các CBCC thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý và điều hành các hoạt động của toàn xã hội theo Pháp luật. Thứ ba, CBCC là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là người giải thích cho cho dân hiểu và thi hành các chủ trường, đường lối của Đảng, chính sách 9 pháp luật của Nhà nước. Cũng thông qua CBCC, Đảng và Nhà nước có thể tìm ra được giải pháp, chính sách phù hợp để thực hiện thành công những chủ trương, đường lối của mình.
Tổng quan về chất lượng đội ngũ CBCC cấp huyện 1. Khái niệm chất lượng đội ngũ CBCC cấp huyện 1. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng là thuật ngữ được ra đời từ rất lâu trong lịch sử. Theo sự phát triển của sản xuất, định nghĩa chất lượng cũng đã dần thay đổi.
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa, trong tiêu chuẩn ISO 8402:2000 (Quality Management and Quality Assurance), trong dự thảo DIS 9000:2000 chất lượng được hiểu là: “khả năng của tập hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn các nhu cầu đã được công bố hay còn tiềm ẩn” (Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng). Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Á (European Quality Control Organization) cho rằng: “Chất lượng là mức độ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng”. Có thể thấy, chất lượng có nhiều quan niệm, nhiều khía cạnh tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, dù theo khía cạnh nào, chất lượng cũng phải đảm bảo một số nội dung, như: phù hợp với tiêu chuẩn đã được công bố; phù hợp với những đòi hỏi của người sử dụng; sự kết hợp cả tiêu chuẩn và đòi hỏi của người tiêu dùng.
Chất lượng nguồn nhân lực được hiểu là: “trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” (Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu, 2003). Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực được hiểu là: tổng hợp những phẩm chất nhất định về trí lực (chuyên môn nghề nghiệp, trí tuệ, năng lực), tâm lực (phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin), và thể lực (sức khỏe). Chất lượng đội ngũ CBCC CBCC là loại hình lao động có tính chất đặc thù riêng. Chất lượng đội ngũ CBCC không chỉ thể hiện ở trình độ, năng lực chuyên môn, mà còn thể hiện qua sự 10 hiểu biết về chính trị- xã hội, qua phẩm chất đạo đức, qua khả năng thích nghi với sự chuyển đổi của nền kinh tế mới,….
Chất lượng CBCC được phát triển từ phẩm chất vốn có bên trong mỗi CBCC đến tính thống nhất của tổ chức, của giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý và kỷ luật trong đội ngũ nơi họ làm việc. Chất lượng của CBCC được chia ra thành chất lượng của từng CBCC; và chất lượng của cả đội ngũ. Chất lượng của từng CBCC được phản ánh qua phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của từng người. Chất lượng của từng CBCC sẽ tạo ra yếu tố cơ bản cho chất lượng của cả đội ngũ.
Chất lượng của cả đội ngũ đươc phản ánh qua đánh giá cơ cấu đội ngũ, như: tổ chức khoa học; tỷ lệ cân đối, hợp lý. Nói cách khác, chất lượng của CBCC không bao giờ được đánh giá theo một khía cạnh nào đó, mà phải đặt trong đánh giá cả một hệ thống, kết cấu như một chỉnh thể toàn diện từ chất lượng của từng CBCC đến cả thực hiện các nguyên tắc, tổ chức và hoạt động của cả bộ máy chính quyền nhân dân. CBCC là nguồn nhân lực làm việc trực tiếp của một đơn vị. Do vậy để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực đó, một hệ thống tiêu chí được sử dụng như một thước đo, bao gồm: tiêu chí thể lực, trí lực và tâm lực.
Tuy nhiên hiện nay có nhiều quan niệm, cách nhìn nhận về chất lượng CBCC khác nhau.