CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN -13- 1. Tổng quan, thực trạng về công tác quản lý chất lượng công trình cấp nước tại Việt Nam nói chung và Tp.Hồ Chí Minh nói riêng. Tổng quan, thực trạng về công tác quản lý chất lượng công trình cấp nước tại Việt Nam. Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng một cách nhanh chóng.
Tỷ lệ GDP của nền kinh tế luôn ở mức khá. Tốc độ phát triển đô thị ngày càng nhanh, theo số liệu thống kê năm 2014 dân số đô thị cả nước là hơn 90 triệu người, đến năm 2020 sẽ là 95 triệu người. Xu hướng đô thị hoá trên cả nước ngày càng phát triển cả về số lượng và quy mô dân số, thu hút nhiều dân cư và các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,. Song cơ sở hạ tầng các đô thị còn yếu kém nhất là giao thông, cấp thoát nước và vệ sinh môi trường, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị trong giai đoạn hiện nay.
Trong thời gian qua, hệ thống cấp nước các đô thị Việt Nam đã được quan tâm ưu tiên đầu tư cải tạo và xây dựng, nhờ vậy tình hình cấp nước đã được cải thiện một cách đáng kể. Nhiêù dự án với vốn đầu tư trong nước, vốn tài trợ của các Chính phủ, các tổ chức Quốc tế đã và đang được triển khai. Hiện nay, toàn bộ 64 tỉnh thành trong cả nước đã có các dự án cấp nước ở các mức độ khác nhau. Tổng công suất thiết kế đạt 5 triệu m3/ngđ.
Trừ các nhà máy nước của các thành phố trực thuộc trung ương và các đô thị tỉnh mới được xây dựng trong thời gian gần đây có dây chuyền công nghệ xử lý và thiết bị khá hiện đại, còn lại là các nhà máy nước cũ có công nghệ lạc hậu và chưa có điều kiện quản lý tự động hoá các khâu khai thác, vận hành. [1] Tổng chiều dài đường ống làm nhiệm vụ truyền tải và phân phối nước trên toàn bộ hệ thống cấp nước trong cả nước vào khoảng 15. Trong số đó có tới trên 30% đã được lắp đặt trên 30 năm chưa được sửa chữa thay thế. Đây là khâu yếu nhất hiện nay của hệ thống cấp nước các đô thị.
Mạng lưới cấp nước hiện tại chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu dùng nước. Nhiều đường ống vẫn tiếp tục xuống cấp và hư hỏng. Thêm vào đó, mạng lưới đường ống xây dựng trước đây phần lớn chưa có quy hoạch hợp lý, chồng chéo qua một số giai đoạn nâng cấp, cải tạo. Chất lượng -14- ống không đồng đều, nhiều tuyến ống cũ đã xuống cấp nghiêm trọng xen kẽ với các đường ống mới lắp đặt, gây khó khăn cho công tác quản lý.
Tỷ lệ thất thoát thất thu nước trong đô thị còn cao hơn 30%. Về cơ cấu tổ chức quản lý cấp nước đô thị: hiện nay, 64 tỉnh, thành phố đều thành lập công ty cấp nước hoặc công ty cấp thoát nước, giao cho các các Sở Xây dựng quản lý ngoại trừ Tp.Hồ Chí Minh do Sở Giao thông vận tải quản lý. Về cơ chế, chính sách quản lý cấp nước đô thị: Việc xây dựng cơ chế chính sách, văn bản pháp quy, tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm, định mức kinh tế kỹ thuật, xây dựng chiến lược qui hoạch cấp nước cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nói chung đã có, nhưng còn thiếu. Công tác hướng dẫn, kiểm tra đối với các địa phương trong việc cụ thể hoá cơ chế chính sách, xây dựng và quản lý các dự án phát triển, khai thác sử dụng công trình cấp nước còn hạn chế, chưa được thường xuyên sâu sát, nhất là ở các đô thị nhỏ còn nhiều yếu kém.
Các chính sách về quản lý và phát triển ngành nước, đặc biệt là chính sách tài chính chưa được qui định cụ thể và chưa được chấp hành nghiêm túc. Các nghị định, thông tư liên quan đến ngành cấp nước đã có, xong các văn bản dưới luật như: Chỉ thị, qui định, qui tắc, điều lệ để quản lý cấp nước đô thị còn thiếu. Việc thi hành pháp luật còn yếu, chưa có bộ máy và cơ chế để thực hiện các luật lệ, qui định đã ban hành. Về năng lực quản lý cấp nước đô thị: Trình độ quản lý của các công ty cấp nước chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình đổi mới.
Các công ty cấp nước thiếu đội ngũ cán bộ, công nhân được đào tạo đúng chuyên môn, trình độ quản lý và vận hành kỹ thuật. Hệ thống dịch vụ cấp nước còn mang tính độc quyền. Sự phối hợp với chính quyền địa phương trong công tác quản lý cấp nước còn nhiều hạn chế. Sự hiểu biết của cán bộ làm việc trong các phòng ban chuyên môn tại địa phương về công tác quản lý cấp nước, cũng như việc phổ biến các văn bản quản lý cấp nước chưa được lĩnh hội thường xuyên và đầy đủ.
Sự tham gia của cộng đồng trong công tác đầu tư, quản lý và cung cấp dịch vụ chưa được huy động đầy đủ. Về chất lượng các công trình cấp nước đô thị: Một trong những nguyên nhân chúng ta chưa đạt được mục tiêu đề ra trong lĩnh vực cấp nước là do chất lượng các -15- công trình cấp nước chưa cao. Quy trình thiết kế, quy trình thi công chuyên ngành chưa phù hợp: Việc áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế, quy chuẩn kỹ thuật, công nghệ chưa đảm bảo sự lựa chọn tối ưu về kinh tế - kỹ thuật và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng dự án. Công tác quản lý, giám sát chất lượng công trình xây dựng của Chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án, Giám sát xây dựng, Giám sát tác giả của tư vấn thiết kế.
còn nhiều điểm yếu, thiếu tính chuyên nghiệp. Đội ngũ Tư vấn giám sát chưa đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý chất lượng trên công trình, chưa kiên quyết xử lý các vi phạm về chất lượng. Trong quá trình thi công, nhà thầu chưa tuân thủ đầy đủ theo các điều kiện về quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn kỹ thuật của dự án; các biện pháp đảm bảo an toàn công trình, an toàn lao động, thực hiện các quy định về môi trường còn bị coi nhẹ. Vật tư sử dụng chưa đồng bộ, chất lượng chưa được kiểm soát chặt chẽ.
Các công trường xây dựng triển khai thiếu khoa học, mặt bằng thi công bề bộn; Bộ máy kiểm soát chất lượng và chi phí cho việc đảm bảo chất lượng của nhà thầu chưa được quan tâm đúng mức. Nguy cơ vi phạm chất lượng công trình xây dựng là lớn và tiềm ẩn. Công tác bảo trì và việc quản lý khai thác vận hành công trình sau khi đưa vào sử dụng chưa được chú trọng. Một ví dụ cụ thể trong việc lựa chọn công nghệ và chủng loại vật tư không phù hợp với điều kiện của dự án là sự cố vỡ đường ống cấp nước Sông Đà dẫn đến khoảng 70.000 hộ dân Thủ đô bị ảnh hưởng do thiếu nước sinh hoạt.
Tổng quan, thực trạng về công tác quản lý chất lượng công trình cấp nước tại Tp.Hồ Chí Minh. Lịch sử ngành cấp nước ở Tp.Hồ Chí Minh được bắt đầu từ thời thuộc Pháp. Sau năm 1975, trên cơ sở hệ thống cấp nước của chính quyền Sài Gòn cũ, chính quyền Tp. Hồ Chí Minh đã thành lập Công ty Cấp nước Tp.Hồ Chí Minh, nâng công suất cấp nước lên khoảng 450.
Đến năm 2005, Công ty đã mở rộng quy mô hoạt động, chuyển đổi cơ cấu thành Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn, hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. [12] Công ty tiếp tục được nâng cấp chuyển thành Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn Trách nhiệm hữu hạn một thành viên (SAWACO) với 8 công ty cổ phần cấp nước -16- trực thuộc gồm: Bến Thành, Chợ Lớn, Gia Định, Thủ Đức, Phú Hòa Tân và Nhà Bè, Tân Hòa, Trung An với nhiệm vụ chính là kinh doanh, phân phối điều hành nước sạch đến từng hộ dân và thi công lắp đặt các công trình cấp nước. Toàn thành phố được cung cấp từ 06 nhà máy nước và các trạm nước ngầm. Năm 2014, tổng công suất cấp nước của Thành phố khoảng 1,7 triệu m3/ngày đêm và dự kiến sẽ tăng lên thành 2,0 triệu m3/ngày đêm khi Nhà máy nước Thủ Đức 3 đi vào hoạt động.
Tuy vậy, công suất cấp nước này vẫn chưa thể đáp ứng 100% nước sinh hoạt, sản xuất khi như cầu dùng nước có thể lên đến 3,7 triệu m3/ngày đêm vào năm 2025. Bên cạnh đó mạng lưới phân phối hiện tại khoảng 5.500 km chủ yếu chỉ bao phủ phần nội thành, phần ngoại thành ít có hệ thống cấp nước sinh hoạt. Trong đó mạng lưới phân phối cấp II, III có chiều dài khảng 4.000km có tỉ lệ ống cũ mục cao, nhiều tuyến ống đã có tuổi thọ cao trên 50 năm. Công tác quy hoạch mạng lưới các tuyến ống chồng chéo không được cập nhật, quản lý đầy đủ dẫn đến tỉ lệ nức thất thoát hàng năm luôn ở mức cao trên 32%, áp lực nước tại một số nơi vẫn thấp hơn so với yêu cầu.
Số lượng đấu nối đạt 970.000 đồng hồ nước. Tỉ lệ hộ dân hiện nay được cấp nước là 89,43%. Về chất lượng nước sạch: hiện nay vấn đề ô nhiễm, nhiễm mặn đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống sông Sài Gòn, sông Đồng Nai gây nhiều khó khăn trong việc đảm bảo chất lượng nước cấp cho toàn thành phố. Bên cạnh đó, các tuyến ống cũ mục, thường xuyên xì bể dễ gây đục khi có sự thay đổi thủy lực trên mạng lưới.
Về cơ chế, chính sách quản lý cấp nước thành phố: Hiện nay, Tổng Công ty cấp nước Sài Gòn trực thuộc Ủy ban nhân dân Tp.Hồ Chí Minh và đơn vị quản lý ngành là Sở Giao thông vận tải. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực của các đơn vị quản lý nhà nước trong việc quản lý chất lượng, quy hoạch đồng bộ hệ thống hạ tầng thông qua các quy định mới được ban hành nhưng vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Nhiều văn bản quy định chồng chéo, không rõ ràng, không thể áp dụng vào thực tiễn. Về chất lượng các công trình cấp nước: việc quản lý chất lượng các công trình cấp nước đô thị ở Tp.Hồ Chí Minh vẫn chưa được quan tâm đúng mức, nhiều quy -17- định, quy trình được ban hành nhưng chưa được thực hiện một cách nghiêm túc hoặc nhiều quy định chưa đi sát thực tiễn dẫn đến việc thực hiện rất khó khăn.
Tay nghề công nhân thi công chưa được đào tạo bài bản, vẫn chủ yếu là nghề truyền nghề.