Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Phần 3. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5.
Kết luận và kiến nghị 4 PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC 2. Lý luận về đội ngũ công chức 2.
Quan niệm về công chức a) Quan niệm về công chức của một số nước trên thế giới Ở Pháp, theo Từ điển Petit Larousse (1992) “công chức là nhân viên của nhà nước được biên chế vào một công việc thường xuyên, liên tục, trong một ngạch của thứ bậc hành chính, biên chế của một ngành công vụ”. Theo Điều 2 Chương II Quy chế chung về công chức nhà nước của Pháp (1994), “công chức là những người được bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên với thời gian làm việc trọn vẹn và được biên chế vào một ngạch trong thứ bậc của các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặc trong các công sở nhà nước” (Trần Anh Tuấn, 2007). Thực chất quan niệm này là chỉ đội ngũ “công chức hành chính và viên chức chuyên môn” trong các cơ quan và tổ chức nhà nước - đó là một đội ngũ ổn định, hoạt động thường xuyên, họ là những người trực tiếp tạo nên hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước. Theo đó, công chức Pháp gồm ba loại: công chức hành chính nhà nước, trực thuộc các bộ trưởng quản lý; công chức địa phương, những người làm việc cho chính quyền địa phương - loại này không thuộc công chức hành chính nhà nước; công chức trực thuộc các công sở tự quản, trong đó có các bệnh viện.
Ở Anh, khái niệm công chức lần đầu tiên xuất hiện trong Luật Nghỉ hưu năm 1859. Đến năm 1977, Hạ viện Anh đã yêu cầu đưa ra một định nghĩa rõ ràng hơn về công chức, nhấn mạnh một đặc điểm rất quan trọng của công chức là “thay mặt nhà nước giải quyết việc công” (Trần Anh Tuấn, 2007). Những người không có vị trí công tác trong cơ quan nhà nước được pháp luật quy định thì không phải là công chức. Nhân viên chính trị, nhân viên tư pháp, quân đội, vương thất (những người trước kia được coi là công chức vì họ được hưởng bổng lộc của vua) và những nhân viên công vụ, có điều kiện phục vụ khác với công chức đều không được quy định là công chức.
Như vậy, ở Anh, khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công tác trong ngành hành chính - ví dụ như nội chính và ngoại giao. 5 Ở Hoa Kỳ, tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ đều được gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chính trị như bộ trưởng, thứ trưởng, trợ lý bộ trưởng (còn gọi là công chức chính trị hay công chức chức nghiệp), những người đứng đầu bộ máy độc lập và những quan chức của ngành hành chính. Các thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ trong ngành lập pháp và những viên chức làm thuê trong Quốc hội thì không phải là công chức. Quan hệ giữa Chính phủ và công chức là quan hệ giữa ông chủ và người làm thuê, ngoài việc điều chỉnh theo quy phạm Luật Hành chính, quan hệ này còn được điều chỉnh bằng hợp đồng dân sự.
Tại Cộng hòa liên bang Đức, công chức được coi là những người có nghề nghiệp đặc biệt trong xã hội có sự khác biệt so với các nhóm nghề nghiệp khác. Công chức bao gồm những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công ích do nhà nước quản lý, các nhân viên làm việc trong các cơ quan chính phủ, nhân viên lái xe lửa. Ở Nhật Bản, công chức được chia thành công chức nhà nước và công chức địa phương. Công chức nhà nước gồm những nhân viên giữ những chức vụ trong bộ máy của Chính phủ trung ương, ngành tư pháp, Quốc hội, quân đội, nhà trường, bệnh viện quốc lập, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức địa phương hưởng lương từ ngân sách của địa phương. Ở Trung Quốc, theo Luật Công chức năm 2005, công chức được hiểu là những người công tác trong cơ quan của nhà nước, mặt trận chính hiệp, tổ chức chính trị, trừ nhân viên phục vụ. Công chức nhà nước gồm hai loại: công chức lãnh đạo là những người được tuyển vào công chức và được bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo. Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Luật Công chức.
Công chức nghiệp vụ chiếm tuyệt đại đa số công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính sách và pháp luật. Bất cứ một nhà nước nào đều cần xây dựng và quản lý một đội ngũ công chức bao gồm những người có năng lực quản lý, có trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc, tận tụy vì trách nhiệm, bổn phận của mình trước công vụ. Nếu không làm được như vậy thì kỷ cương nhà nước sẽ bị buông lỏng, hiệu quả và hiệu lực của nền hành chính nhà nước bị suy giảm, xã hội sẽ lộn xộn và nhà nước khó thực hiện được chức năng quản lý kinh tế, quản 6 lý xã hội của mình. Khái niệm công chức mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc vào quan niệm về hoạt động công vụ, chế độ chính trị và nền văn hóa của mỗi quốc gia và phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể trong từng nước.
Tóm lại, công chức là những công dân được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. b) Quan niệm về công chức ở Việt Nam Theo Quy chế công chức được ban hành kèm theo Sắc lệnh 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Sau đó, do hoàn cảnh chiến tranh, nước ta đã thực hiện chính sách cán bộ, lấy người cán bộ là trung tâm, hình thành đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, do đó Quy chế công chức chưa được thực hiện đầy đủ. Trong một thời gian dài sau khi thống nhất đất nước, chế độ cán bộ được thực hiện trong phạm vi cả nước.
Bước vào thời kỳ đổi mới, để từng bước khắc phục những hạn chế về công tác tổ chức cán bộ, phục vụ cho việc xây dựng chế độ công chức trong thời kỳ đổi mới, ngày 25 tháng 5 năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT về công chức nhà nước. Theo đó, “công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước”. Theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức, khái niệm về “công chức” khá rộng. Chỉ đến Luật Cán bộ, công chức (Quốc Hội, 2008) mới xác định rõ cán bộ, công chức.
"Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức 7 chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật". Như vậy, công chức được xác định chỉ có ở ba cấp hành chính: cấp huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương. Riêng ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) thì có cán bộ, công chức cấp xã. Đặc điểm của đội ngũ công chức a) Đội ngũ công chức là chủ thể của nền công vụ Đội ngũ công chức hành chính nhà nước là những người có vị trí trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, có chức năng thực thi pháp luật và thi hành công vụ nhằm phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội.
Đội ngũ công chức là hạt nhân cơ bản của nền công vụ, là chủ thể thực sự tiến hành các công vụ cụ thể và cũng chính là yếu tố đảm bảo cho nền công vụ hoạt động, vận hành có hiệu lực, hiệu quả. b) Đội ngũ công chức là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao Tính chuyên nghiệp của công chức hành chính nhà nước được quy định bởi địa vị pháp lý và được thể hiện qua hai yếu tố: thời gian, thâm niên công tác và trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ hành chính. Hai yếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên mức độ chuyên nghiệp của người công chức hành chính nhà nước. c) Đội ngũ công chức là đội ngũ tương đối ổn định, mang tính kế thừa, nhưng luôn đòi hỏi không ngừng nâng cao về chất lượng Khác với công chức của một số nước, không có tính ổn định, đội ngũ công chức hành chính nhà nước của nước ta hoạt động ổn định, ít chịu biến động nhằm duy trì tính ổn định, liên tục của nền hành chính; họ được bảo hộ bằng quy định "biên chế nhà nước".