phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có ba chương: 9 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Chƣơng 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS hiện nay trên địa bàn huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tổ chuyên môn ở các trường THCS huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh. 10 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.
Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Hoạt động quản lí bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Để quá trình phân công, hợp tác lao động đạt hiệu quả, năng suất cao hơn thì đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, … một cách khoa học. Trong lĩnh vực giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển KT-XH và KH-KT thì cần phải nghiên cứu vấn đề khoa học quản lý giáo dục. Trên thế giới đã có rất nhiều tác giả có các công trình nghiên cứu về quản lí giáo dục như: “Những vấn đề về quản lí trường học” (P.I Kôđacốp), “Cơ sở lí luận của khoa học QLGD” (M.I Kôđacốp ), “Quản lí giáo dục quốc dân trên địa bàn cấp huyện” (M.
Ở Việt Nam, từ năm 1990 trở về trước đã có một số công trình, bài viết của nhiều tác giả bàn về lí luận quản lí trường học và các hoạt động quản lí nhà trường như tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ và các bài giảng về QLGD (Trường CBQLGD Trung ương I)…Đến những năm đầu của thập kỷ 90 đến nay đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như : “Giáo trình khoa học quản lí” của PTS Phạm Trọng Mạnh (NXB ĐHQG Hà Nội năm 2001); “Khoa học tổ chức và quản lí một số vấn đề lí luận và thực tiễn” của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lí (NXB thống kê Hà Nội năm 1999); “Tâm lí xã hội trong quản lí” của Ngô Công Hoàn (NXB ĐHQG Hà Nội); Tập bài giảng "Lí luận đại cương về quản lí" của TS Nguyễn Quốc Chí và PGS TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc (Hà Nội 1998); “Đại cương về khoa học quản lí” của PGS TS Trần Hữu Cát và TS Đoàn Minh Duệ (Nhà xuất bản Nghệ An); Tập bài giảng "Quản lí giáo dục và quản lí nhà trường” của PGS TS Thái Văn Thành trường ĐH Vinh (Vinh, 2004)…Đây là những công trình khoa học nghiên cứu hết sức công phu, có tính 11 lí luận và thực tiễn cao, đã đóng góp lớn vào việc nghiên cứu nâng cao chất lượng QLGD. Đặc biệt, ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước vấn đề “chất lượng đội ngũ cán bộ quản lí” là một đề tài hết sức quan trọng đã được Đảng, Nhà nước rât quan tâm. Ngày 15-6-2004, Ban Bí thư ra chỉ thị số 40-CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Sau đó, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010” (quyết định 09).
Các đề tài nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học về nâng cao chất lượng đội ngũ như: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường THCS của Phạm Đức Tưởng (Cao học QLGD khóa 14 Đại học Vinh), Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường Tiểu học của Trần Quốc Tuấn (Cao học QLGD khóa 14 Đại học Vinh). Các đề tài này đã đề cập đến mặt lí luận cũng như thực tiễn của vấn đề “chất lượng đội ngũ cán bộ quản lí” và chỉ ra một số biện pháp, giải pháp khắc phục khó khăn trước mắt. Trong thời gian qua hầu như chưa có đề tài nào thực hiện nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lí tổ chuyên môn hoặc nếu có nghiên cứu mới chỉ là mức độ sáng kiến kinh nghiệm, bài thu hoạch chuyên đề. Ở tỉnh Hà Tĩnh nói chung và huyện Nghi Xuân nói riêng, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tổ chuyên môn đã được quan tâm, tuy rằng đó mới chỉ là chủ trương mà chưa đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn quản lí của đội ngũ.
Trong công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tổ chuyên môn cần phải nhìn nhận một cách khoa học hơn, từ đó có những giải pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cũng như chất lượng giáo dục. Một số khái niệm cơ bản: 1. Khái niệm về quản lý: 12 Có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, như" - Theo từ điển Bách khoa toàn thư Liên xô, 1977, quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức, với bản chất khác nhau (Xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình , mục đích hoạt động. [12,5 ] - Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý, đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục tiêu nhất định.
- Quản lý: Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [16,772]. - Quản lý là nhằm phối hợp nổ lực của nhiều người sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội [9,15]. - Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất. - Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ - làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến.
- Quản lý là sự tác động chỉ huy điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra .] Từ những định nghĩa trên có thể rút ra những nhận xét sau: + Tuy các cách diễn đạt khác nhau nhưng những định nghĩa đều thể hiện được bản chất của hoạt động quản lý, đó là: hoạt động quản lý nhắm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đã đề ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới. + Quản lý gồm các yếu tố sau : 13 - Phải có ít nhất một chủ thể quản lý, là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất có một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra, các khách thể khác chiụ tác động gián tiếp của chủ thể quản lý, tác động cũng có thể là một lần cũng có thể là nhiều lần. - Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. - Chủ thể phải thực hành việc tác động, chủ thể có thể là một người, nhiều người còn đối tượng cũng có thể một người hoặc nhiều người trong cùng một tổ chức xã hội.
Như vậy, Quản lý là quá trình tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng(khách thể) quản lý, nhằm đạt được mục đích quản lý đề ra. Quản lý giáo dục Có nhiều quan điểm về quản lý giáo dục, dưới đây là một số cách tiếp cận: - Theo học giả M.Kônđacôp: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu,… nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả mặt số lượng lẫn chất lượng” [9,212]. TS Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng thực hiện được các tính chất nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [46,72]. TS Trần Kiểm “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học 14 sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường” [35, 38].
TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [2,38]. Như vậy, quản lý giáo dục được hiểu theo các cấp độ vĩ mô và vi mô.
Ở cấp độ vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, có quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục. Ở cấp vi mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Như vậy, quản lý giáo dục là sự tác động có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo những quy luật khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt đến hiệu quả mong muốn. Quản lý nhà trường.
Quản lý nhà trường là một bộ phận quản lý giáo dục, được thực hiện trong một cơ sở giáo dục cụ thể (trường học).