CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Bản chất và mục đích hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển được trong cạnh tranh ngày càng khốc liệt chúng ta cần phải hiểu, quán triệt bản chất và mục đích hoạt động của doanh nghiệp trong khi giải quyết tất cả các vấn đề, các mối quan hệ của hoặc liên quan đến quá trình kinh doanh. Trong kinh tế thị trường hoạt động của doanh nghiệp là quá trình đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, tạo lập hoặc củng cố vị thế với kỳ vọng đạt hiệu quả cao bền lâu nhất có thể. Doanh nghiệp là đơn vị tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh, là tổ chức làm kinh tế.
Doanh nghiệp có thể kinh doanh sản xuất, kinh doanh thương mại, kinh doanh dịch vụ. Như vậy, bản chất của hoạt động của doanh nghiệp là đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, những lợi ích phát sinh. Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là đạt được hiệu quả hoạt động cao nhất, bền lâu nhất có thể. Theo GS, TS Đỗ Văn Phức [12, tr 15], hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là kết quả tương quan, so sánh những lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp quy tính thành tiền với tất cả các chi phí cho việc có được các lợi ích đó cũng quy tính thành tiền.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là tiêu chuẩn được sáng tạo để đánh giá, lựa chọn mỗi khi cần thiết. Do đó, cần tính toán tương đối chính xác và có chuẩn mực để so sánh. Để tính toán được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước hết cần tính toán được toàn bộ các lợi ích và toàn bộ các chi phí Phạm Đình Thủy Luận văn thạc sĩ tương thích. Do lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp cụ thể hàng năm thường rất phong phú, đa dạng, hữu hình và vô hình (tiền tăng thêm, kiến thức, kỹ năng tăng thêm, quan hệ tăng thêm, tăng thêm về công ăn - việc làm, cân bằng hơn về phát triển kinh tế, thu nhập, ảnh hưởng đến môi trương sinh thái, môi trường chính trị - xã hội…) nên cần nhận biết, thống kê cho hết và biết cách quy tính tương đối chính xác ra tiền.
Nguồn lực được huy động, sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp cụ thể trong năm thường bao gồm nhiều loại, nhiều dạng, vô hình và hữu hình và có loại chỉ tham gia một phần nên cần nhận biết, thống kê đầy đủ và bóc tách - quy tính ra tiền cho tương đối chính xác. Theo GS, TS kinh tế Đỗ Văn Phức [12, tr 16 và 17], mỗi khi phải tính toán, so sánh các phương án, lựa chọn một phương án đầu tư kinh doanh cần đánh giá, xếp loại A, B, C mức độ tác động, ảnh hưởng đến tình hình chính trị - xã hội và môi trường sinh thái như sau : Bảng 1.1 Các hệ số xét tính lợi ích xã hội - chính trị và ảnh hưởng đến môi trường trong việc xác định, đánh giá hiệu quả sản xuất công nghiệp Việt Nam Giai đoạn Loại ảnh hưởng 2006 - 2010 2011 - 2015 2016 - 2020 Xã hội - chính trị 1, 35 1, 25 1, 15 Loại A Môi trường 1, 2 1, 3 1, 45 Xã hội - chính trị 1 1 1 Loại B Môi trường 1 1 1 Xã hội - chính trị 0, 80 0, 85 0, 90 Loại C Môi trường 0, 80 0, 75 0, 70 Phạm Đình Thủy Luận văn thạc sĩ Sau khi đã quy tính, hàng năm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được nhận biết, đánh giá trên cơ sở các chỉ tiêu : Lãi (Lỗ), Lãi / tổng tài sản, Lãi/ Toàn bộ chi phí sinh lãi, Lãi ròng/ Vốn chủ sở hữu. Trong kinh tế thị trường doanh nghiệp tiến hành kinh doanh là tham gia cạnh tranh. Vị thế cạnh tranh (lợi thế so sánh) của doanh nghiệp chủ yếu quyết định mức độ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Khi nền kinh tế của đất nước hội nhập với kinh tế khu vực, kinh tế thế giới doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội, đồng thời phải chịu thêm nhiều sức ép mới. Trong bối cảnh đó doanh nghiệp nào tụt lùi, không tiến so với trước, tiến chậm so với các đối thủ là tụt hậu, là thất thế trong cạnh tranh ∆ 1 < ∆ 2, là vị thế cạnh tranh thấp kém hơn, là bị đối thủ mạnh hơn thao túng, là hoạt động đạt hiệu quả thấp hơn, xuất hiện nguy cơ phá sản, dễ đi đến đổ vỡ hoàn toàn. Thực tế của Việt nam từ trước đến nay và thực tế của các nước trên thế giới luôn chỉ ra rằng : vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu do trình độ (năng lực) lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp đó quyết định Phạm Đình Thủy Luận văn thạc sĩ Đối Đ i thủ th cạnh c nhtranh tranh U1 < U2 Ta DNVN cụ thể U1 < U2 T1 T1 T2 T2 Thời gian Th i gian Hình 1.1 Vị thế cạnh tranh (U) quyết định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Các giai đoạn phát triển kinh tế đã đưa ra một thực tế rằng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cao thì phải được quản lý tốt. Nếu quản lý yếu kém thì dù các nguồn lực có dồi dào đến mấy thì cuối cùng cũng đi đến thất bại.
Quản lý là một hệ thống những tư tưởng, quan niệm: đúc kết, giải thích về các hoạt động quản lý được thực hành trong thế giới thực. Lý thuyết quản lý dựa vào thực tế và được nghiên cứu một cách có hệ thống qua các thời đại. Trước đây, lý thuyết quản lý chưa phát triển trong kinh doanh vì công việc sản xuất kinh doanh chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình. Đến thế kỷ 18, cuộc cách mạng công nghiệp đã chuyển sản xuất từ phạm vi gia đình sang nhà máy.
Quy mô, độ phức tạp gia tăng, việc nghiên cứu Phạm Đình Thủy Luận văn thạc sĩ quản lý bắt đầu trở nên cấp bách, song cũng chỉ tập trung vào kỹ thuật sản xuất hơn nội dung của hoạt động quản lý. Đến thế kỷ 19, sự quan tâm của những người trực tiếp quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh và của cả những nhà khoa học đến các hoạt động quản lý mới thật sự sôi nổi. Dù tập trung nhiều vào khía cạnh kỹ thuật sản xuất nhưng đồng thời cũng chú ý đến khía cạnh lao động trong quản lý, như Robert Owen (1771 - 1858) đã tìm cách cải thiện điều kiện làm việc và điều kiện sống của công nhân. Xét về phương diện quản lý, việc làm của Owen đã đặt nền móng cho các công trình nghiên cứu quản lý nhất là các nghiên cứu về mối quan hệ giữa điều kiện lao động với kết quả của doanh nghiệp.
Xuất phát từ tư tưởng quản lý, rất nhiều các nghiên cứu về phương pháp quản lý hiệu quả đã ra đời cùng với phong trào quản lý khoa học. Nhưng đến năm 1911, khái niệm về khoa học quản lý và phương pháp làm việc khoa học mới ra đời với cuốn sách có nhan đề “Những nguyên tắc quản lý khoa học” của Fredrick Winslow Taylor (1856 – 1915) được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học. Ngày nay, rất nhiều các phương pháp quản lý khoa học đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trong các nhà máy, doanh nghiệp lớn trên toàn thế giới. Những năm 70 của thế kỷ XX, các nước phương Đông đã nghiên cứu và áp dụng các phương pháp quản lý của riêng mình mà được biết tới rất nhiều như là: Thuyết Z và những kỹ thuật quản lý Nhật Bản của William Ouchi và Lý thuyết Kaizen - chìa khóa của thành công về quản lý ở Nhật Bản của Massaakiimai.
Hai thuyết này đã được ứng dụng trở thành văn hóa quản lý đem đến hiệu quả rất cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhật Bản cũng như tại nhiều doanh nghiệp trên thế giới. Để phân tích, áp dụng thành công các phương pháp quản lý vào hoạt động của doanh nghiệp thì trước tiên ta cần phải hiểu bản chất và mục đích của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Phạm Đình Thủy Luận văn thạc sĩ Các định nghĩa được trình bày trên hình 1. Tổ hợp các nhân tố Tìm kiếm ( sản xuất, kỹ lợi nhuận và thuật, tài chính) một số mục tiêu khác DOANH Sản xuất ra NGHIỆP để bán Là một nhóm người Phân phối lợi nhuận cho: có tổ chức và chủ sở hữu, chủ nợ, người lao động, cấp bậc người cung ứng Hình 1.
Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là quá trình đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với đối thủ phần nhu cầu của thị trường, tạo lập hoặc củng cố vị thế với kỳ vọng đạt được hiệu quả cao bền lâu có thể. Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh. Có thể tham khảo định nghĩa dưới đây của viện thống kê Pháp: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất ra các của cải vật chất hoặc dịch vụ dùng để bán[3, 23].
Bản chất của hoạt động của doanh nghiệp là quá trình đầu tư, tổ hợp các nguồn lực nhân tố sản xuất, kỹ thuật tài chính nhằm sản xuất ra sản phẩm cạnh tranh trên thị trường, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá trên lợi nhuận và một số mục tiêu khác. Để tính toán được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước hết cần tính toán được toàn bộ các lợi ích và toàn bộ các chi phí của quá trình hoạt động. Lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp cụ thể hàng năm rất đa dạng có những lợi ích hữu hình và lợi ích vô hình nên cần nhận biết, thống kê cụ thể và biết cách quy tính tương Phạm Đình Thủy Luận văn thạc sĩ đối ra tiền. Nguồn lực được huy động, sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp trong năm thường bao gồm nhiều loại, nhiều dạng, vô hình và hữu hình và có loại chỉ tham gia một phần nên cần nhận biết, thống kê đầy đủ, bóc tách quy ra tiền cho tương đối chính xác.