Tổng quan nghiên cứu

Thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010 đã ghi nhận tốc độ tăng trưởng vượt bậc về cả quy mô vốn hóa lẫn số lượng doanh nghiệp tham gia. Tính đến ngày 31/12/2009, toàn thị trường có 453 công ty niêm yết chính thức, bao gồm 196 công ty tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (SGDCK TP.HCM) và 257 công ty tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (SGDCK Hà Nội). Sự bùng nổ này đòi hỏi tính minh bạch cao đối với thông tin tài chính nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư và duy trì sự ổn định của nền kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, thực tế phát sinh nhiều sai lệch trọng yếu giữa số liệu trước và sau kiểm toán, đặt ra nghi vấn lớn về độ tin cậy của Báo cáo kiểm toán (BCKT). Báo cáo kiểm toán đóng vai trò là công cụ kiểm soát độc lập thiết yếu, nhưng hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA 700 ban hành năm 1999) đã bộc lộ nhiều điểm bất cập và lạc hậu so với thông lệ quốc tế, cụ thể là bộ chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 700, ISA 705 và ISA 706 được ban hành năm 2009.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa lý luận về việc lập và phát hành BCKT, khảo sát toàn diện thực trạng phát hành BCKT đối với Báo cáo tài chính (BCTC) của các công ty niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2007 - 2008. Từ kết quả thực chứng, luận văn xác định các nguyên nhân gốc rễ và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng BCKT, giúp giảm thiểu rủi ro thông tin cho hơn 800 mã chứng khoán và chứng chỉ quỹ, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho quá trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) do Meyer và Rowan (1977) khởi xướng làm nền tảng phân tích cấu trúc tổ chức và hành vi kiểm toán. Lý thuyết này chỉ rõ hoạt động của công ty kiểm toán chịu sự chi phối đồng thời của hai nhóm nhân tố: nhân tố kỹ thuật bên trong (quy trình soát xét, đạo đức nghề nghiệp, thủ tục kiểm toán) và nhân tố thể chế bên ngoài (khung pháp lý, Nghị định 105/2004/NĐ-CP, áp lực từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và sự kỳ vọng của công chúng).

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp Lý thuyết khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (Audit Expectation Gap Theory) của Porter (1993), Luehlfing (2004), Hian Chye Koh và E-Sah Woo. Khung lý thuyết này phân định rõ ranh giới giữa trách nhiệm lập BCTC của Ban Giám đốc và trách nhiệm đưa ra ý kiến chuyên môn của kiểm toán viên (KTV), giúp giải thích sự chênh lệch giữa mong đợi tuyệt đối của xã hội và kết quả kiểm toán thực tế.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm: Báo cáo kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 700 (1999), Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 700, ISA 705, ISA 706 (ban hành năm 2009), cùng bốn loại ý kiến kiểm toán đặc trưng: Chấp nhận toàn phần, Ngoại trừ (chấp nhận từng phần), Không chấp nhận (phủ nhận) và Từ chối đưa ra ý kiến.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp bao gồm toàn bộ BCKT về BCTC của các công ty niêm yết trên sàn HOSE và HNX trong hai năm tài khóa 2007 và 2008, cùng hệ thống văn bản pháp quy như Nghị định 105/2004/NĐ-CP, Thông tư 64/2004/TT-BTC, Nghị định 14/2007/NĐ-CP, Quyết định 89/2007/QĐ-BTC và Thông tư 09/2010/TT-BTC. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn sâu trực tiếp các chuyên gia tài chính và KTV hành nghề giàu kinh nghiệm.

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả, phân tích định lượng kết hợp định tính, đối chiếu so sánh theo thời gian và không gian giao dịch. Mẫu nghiên cứu bao quát các nhóm doanh nghiệp theo ngành nghề và 4 nhóm quy mô vốn: nhóm dưới 50 tỷ đồng, từ 50 đến dưới 100 tỷ đồng, từ 100 đến dưới 500 tỷ đồng, và từ 1000 tỷ đồng trở lên. Việc lựa chọn phương pháp này giúp phản ánh chính xác các sai lệch về mặt hình thức và nội dung của BCKT, đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn chuyển giao kinh tế 2007 - 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng trên hệ thống BCKT giai đoạn 2007 - 2008 mang lại những phát hiện quan trọng:

  • Thứ nhất, về hình thức trình bày, trên 90% BCKT dạng chấp nhận toàn phần tuân thủ bố cục cơ bản của VSA 700. Tuy nhiên, việc trình bày đoạn phân định trách nhiệm của Ban Giám đốc và KTV còn nhiều điểm không đồng nhất giữa các công ty kiểm toán độc lập, dẫn đến sự thiếu chuẩn hóa thông tin cho người đọc.
  • Thứ hai, về cơ cấu ý kiến kiểm toán, tỷ lệ BCKT có ý kiến không phải chấp nhận toàn phần và có đoạn nhấn mạnh trong năm 2008 tăng đáng kể so với năm 2007. Đáng chú ý, các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ dưới 50 tỷ đồng (chiếm 55,64% tổng số công ty niêm yết tại sàn Hà Nội) có tỷ lệ nhận ý kiến ngoại trừ cao hơn khoảng 15% so với nhóm công ty có quy mô vốn từ 1000 tỷ đồng trở lên (chiếm 12,76% tại sàn TP.HCM và 3,12% tại sàn Hà Nội).
  • Thứ ba, về tính minh bạch của lý do điều chỉnh, nhiều BCKT có ý kiến ngoại trừ sử dụng câu từ chung chung, không lượng hóa cụ thể số tiền sai sót trọng yếu hoặc không nêu rõ mức độ ảnh hưởng lan tỏa đến toàn bộ BCTC.
  • Thứ tư, khung pháp lý chuyên ngành bộc lộ khoảng trống lớn khi VSA 700 ban hành từ năm 1999 chưa phân tách rành mạch các trường hợp điều chỉnh ý kiến và chưa hướng dẫn chi tiết việc sử dụng đoạn nhấn mạnh như bộ chuẩn ISA 705 và ISA 706 năm 2009.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa sinh động thông qua 3 bảng tổng hợp chỉ tiêu và 10 biểu đồ chuyên sâu trong luận văn. Các biểu đồ từ Biểu đồ 1 đến Biểu đồ 10 minh họa rõ nét sự phân hóa loại ý kiến kiểm toán giữa hai sàn giao dịch, cũng như mối tương quan chặt chẽ giữa quy mô vốn điều lệ và tần suất xuất hiện các vấn đề cần lưu ý trong BCKT.

Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ cả hai chiều thể chế. Về mặt khách quan, hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam chậm được cập nhật so với sự đổi mới của thế giới, đồng thời các quy định chế tài xử lý sai phạm kiểm toán theo Nghị định 105/2004/NĐ-CP chưa đủ sức răn đe. Về mặt chủ quan, tình trạng cạnh tranh gay gắt về giá phí kiểm toán giữa các doanh nghiệp kiểm toán độc lập dẫn đến nguy cơ thỏa hiệp với khách hàng hoặc cắt giảm thủ tục thu thập bằng chứng. So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ dừng lại ở việc so sánh số liệu lãi lỗ, kết quả của luận văn đã chứng minh rằng cấu trúc và chất lượng diễn đạt của BCKT tác động trực tiếp tới hành vi định giá cổ phiếu và mức độ an toàn của thị trường vốn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng BCKT đối với các công ty niêm yết, luận văn đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:

  • Ban hành Luật Kiểm toán độc lập và cập nhật hệ thống chuẩn mực: Bộ Tài chính cần sớm xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật Kiểm toán độc lập. Đồng thời, khẩn trương hiệu đính Chuẩn mực VSA 700 và ban hành mới hai chuẩn mực tương đương quốc tế gồm VSA 705 (Điều chỉnh ý kiến kiểm toán) và VSA 706 (Đoạn nhấn mạnh và vấn đề khác), hướng tới mục tiêu 100% chuẩn mực kiểm toán Việt Nam tương thích với chuẩn mực quốc tế giai đoạn 2011 - 2013.
  • Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật tại các công ty kiểm toán: Ban Giám đốc các doanh nghiệp kiểm toán phải thiết lập quy trình kiểm soát chất lượng nội bộ nghiêm ngặt trước khi ký phát hành BCKT. Bắt buộc lượng hóa cụ thể các sai sót trong đoạn cơ sở cho ý kiến ngoại trừ, đồng thời tổ chức đào tạo chuyên môn định kỳ tối thiểu 40 giờ mỗi năm cho đội ngũ KTV nhằm giảm thiểu trên 30% các lỗi diễn đạt thiếu minh bạch.
  • Kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh và bình ổn phí kiểm toán: Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) cần xây dựng khung giá phí kiểm toán sàn dựa trên quy mô tài sản và mức độ rủi ro của đơn vị được kiểm toán, ngăn chặn triệt để hành vi hạ giá phí đi kèm thỏa hiệp ý kiến, đảm bảo tỷ lệ tuân thủ đạo đức nghề nghiệp đạt trên 95%.
  • Tăng cường giám sát thị trường chứng khoán: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và hai Sở Giao dịch Chứng khoán cần thực hiện nghiêm túc Quyết định 89/2007/QĐ-BTC và Thông tư 09/2010/TT-BTC, rà soát chặt chẽ tiêu chuẩn công ty kiểm toán được chấp thuận (vốn tối thiểu 2 tỷ đồng, tối thiểu 7 KTV hành nghề và 30 khách hàng kiểm toán), xử lý dứt điểm 100% các trường hợp doanh nghiệp chậm công bố BCKT hoặc có ý kiến ngoại trừ không giải trình thỏa đáng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Kiểm toán viên và Ban điều hành các công ty kiểm toán độc lập: Tài liệu giúp nhận diện các lỗi nghiệp vụ phổ biến trong việc soạn thảo BCKT, từ đó hoàn thiện quy trình kiểm soát rủi ro pháp lý và nâng cao tính chuẩn xác khi đưa ra các dạng ý kiến kiểm toán phức tạp.
  • Nhà đầu tư cá nhân và tổ chức tài chính: Cung cấp phương pháp luận thực tế để đọc hiểu chuyên sâu BCKT, phân biệt rõ bản chất của ý kiến ngoại trừ và đoạn nhấn mạnh, giúp nhận diện sớm rủi ro tài chính của 453 công ty niêm yết để tối ưu hóa quyết định đầu tư danh mục.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN, VACPA): Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực chứng từ hai sàn giao dịch nhằm phục vụ công tác soạn thảo Luật Kiểm toán độc lập, hoàn thiện hệ thống VSA và nâng cao hiệu quả thanh tra hoạt động kiểm toán đại chúng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán: Là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp khảo sát thực tế, kỹ thuật xử lý dữ liệu thị trường chứng khoán và mô hình ứng dụng lý thuyết thể chế vào nghiên cứu kiểm toán.

Câu hỏi thường gặp

Báo cáo kiểm toán đóng vai trò như thế nào đối với nhà đầu tư chứng khoán? Báo cáo kiểm toán là cơ sở độc lập xác nhận mức độ trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính. Báo cáo kiểm toán giúp giảm thiểu rủi ro thông tin bất đối xứng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư và tạo lập niềm tin vững chắc để thị trường vốn vận hành minh bạch, hiệu quả.

Bốn loại ý kiến kiểm toán cơ bản khác nhau ở những điểm nào? Bốn loại ý kiến gồm: Chấp nhận toàn phần (BCTC phản ánh trung thực, hợp lý), Ngoại trừ (sai sót trọng yếu nhưng không lan tỏa), Không chấp nhận (sai sót trọng yếu và lan tỏa toàn bộ BCTC), và Từ chối đưa ra ý kiến (bị giới hạn phạm vi nghiêm trọng không thể thu thập bằng chứng đầy đủ theo ISA 705).

Vì sao Chuẩn mực VSA 700 của Việt Nam cần được cập nhật theo bộ ISA 2009? VSA 700 ban hành năm 1999 dựa trên chuẩn quốc tế cũ năm 1994 nên thiếu hướng dẫn cụ thể cho các trường hợp đưa ra ý kiến điều chỉnh. Bộ chuẩn ISA 2009 đã tách biệt rõ ràng ISA 700, ISA 705 và ISA 706, cung cấp khung quy chiếu chuẩn xác và minh bạch hơn cho kiểm toán viên.

Tiêu chuẩn để công ty kiểm toán được kiểm toán doanh nghiệp niêm yết là gì? Theo Quyết định 89/2007/QĐ-BTC, doanh nghiệp kiểm toán phải có vốn điều lệ tối thiểu 2 tỷ đồng (hoặc 300.000 USD với doanh nghiệp có vốn nước ngoài), tối thiểu 7 kiểm toán viên hành nghề, thời gian hoạt động đủ 3 năm và có tối thiểu 30 khách hàng kiểm toán trong 2 năm gần nhất.

Đoạn nhấn mạnh vấn đề trong báo cáo kiểm toán có phải là ý kiến ngoại trừ không? Không. Đoạn nhấn mạnh (quy định tại ISA 706) được sử dụng trong báo cáo chấp nhận toàn phần nhằm lưu ý người đọc về một sự kiện trọng yếu đã được trình bày đúng chuẩn mực trên BCTC, hoàn toàn không làm thay đổi bản chất chấp nhận toàn phần của ý kiến kiểm toán.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định chất lượng báo cáo kiểm toán là nhân tố sống còn đối với sự phát triển lành mạnh và bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng phát hành BCKT giai đoạn 2007 - 2008 trên hai sàn HOSE và HNX, làm rõ mối liên hệ giữa quy mô vốn doanh nghiệp và chất lượng ý kiến kiểm toán.
  • Chứng minh tính cấp thiết của việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế ISA 700, ISA 705 và ISA 706 ban hành năm 2009.
  • Đề xuất hệ sinh thái 4 giải pháp trọng tâm gắn kết giữa hoàn thiện khung thể chế pháp luật, nâng cao năng lực công ty kiểm toán và thắt chặt giám sát công bố thông tin.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho quá trình ban hành Luật Kiểm toán độc lập và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2011 - 2015.

Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp kiểm toán và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác quản trị, hoạch định chính sách và hoạt động đầu tư thực tế.