Luận văn thạc sĩ ueh gỉải pháp nâng cao chất lượng báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ UEH đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng báo cáo kiểm toán tài chính cho công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2010

158
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BCTC

1.1. Khái niệm và bản chất BCKT

1.2. Bản chất của BCKT

1.3. Mục tiêu của kiểm toán BCTC

1.4. Mong đợi của người sử dụng

1.5. Ảnh hưởng của BCKT đối với người sử dụng

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng BCKT

1.6.1. Sự tác động của môi trường pháp lý đến BCKT

1.6.2. Tác động của chuẩn mực lên BCKT

1.7. Các nội dung căn bản của một BCKT

1.8. Lịch sử ra đời và phát triển của BCKT

1.9. BCKT theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành

1.9.1. Chuẩn mực ISA 700 (2009)

1.9.2. Chuẩn mực kiểm toán ISA 705

1.9.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BCTC CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1. Tổng quan về công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

2.1.1. Lịch sử hình thành TTCK Việt Nam

2.1.2. Thực trạng công ty niêm yết ở VN hiện nay

2.1.3. Phân loại công ty niêm yết

2.1.3.1. Theo thời gian niêm yết
2.1.3.2. Theo ngành nghề
2.1.3.3. Theo quy mô vốn

2.2. Tiêu chuẩn niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

2.3. Tiêu chuẩn niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

2.4. Các quy định pháp lý liên quan đến BCKT

2.4.1. Nghị định 105/2004/NĐ – CP và thông tư 64/2004/TT- BTC

2.4.2. Chuẩn mực kiểm toán

2.4.3. Các quy định pháp lý khác

2.5. Đặc điểm hoạt động kiểm toán độc lập VN

2.5.1. Các dịch vụ do kiểm toán độc lập cung cấp

2.5.2. Những tồn tại của hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam

2.6. Thực trạng BCKT về BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

2.6.1. Phương pháp khảo sát

2.6.2. Kết quả khảo sát thông qua thu thập BCKT

2.6.3. Hình thức của BCKT về BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

2.6.4. Ý kiến của KTV trên BCKT

2.6.5. Kết quả khảo sát thông qua phỏng vấn

2.6.6. Hướng dẫn của CMKT “BCKT về BCTC” VSA 700 của Việt Nam

2.6.7. Giới hạn phạm vị kiểm toán và ý kiến KTV

2.6.8. Những vấn đề không nhất trí với Ban giám đốc và ý kiến của KTV

2.6.9. Đánh giá chung thực trạng BCKT về BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam

2.6.10. Những tồn tại

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BCTC

3.1. Quan điểm về giải pháp

3.2. Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng BCKT phải phù hợp với môi trường kinh doanh, môi trường luật pháp VN

3.3. Việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng BCKT phải nhằm giúp thị trường chứng khoán phát triển bền vững

3.4. Việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng BCKT phải giúp VN sớm hội nhập vào kinh tế khu vực và quốc tế

3.5. Giải pháp chung

3.5.1. Ban hành Luật kiểm toán độc lập

3.5.2. Cập nhật thường xuyên hệ thống CMKT Việt Nam, trong đó có CMKT BCKT

3.5.3. Ban hành những hướng dẫn chi tiết các CMKT, trong đó có chuẩn mực BCKT

3.6. Giải pháp cụ thể

3.6.1. Hiệu đính CMKT VSA 700 “BCKT về BCTC”

3.6.2. Ban hành thêm các CMKT khi KTV đưa ý kiến kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần (VSA 705 và VSA 706)

3.6.2.1. Ban hành mới CMKT VSA 705
3.6.2.2. Ban hành mới CMKT VSA 706

3.6.3. Ban hành các hướng dẫn chi tiết cho những trường hợp phức tạp

3.6.4. Hoàn thiện quy trình tổng hợp đánh giá kết quả và phát hành BCKT trong trường hợp ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần

3.6.5. Hoàn thiện quy trình tổng hợp và phát hành BCKT trong trường hợp KTV đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần có đoạn nhấn mạnh

3.7. Một số kiến nghị

3.7.1. Về phía công ty kiểm toán

3.7.1.1. Cần tuân thủ các CMKT trong đó có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán
3.7.1.2. Cần hoàn thiện quy trình soạn thảo và phát hành BCKT
3.7.1.3. Cần nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ KTV
3.7.1.4. Cần giảm thiểu sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty kiểm toán bằng hạ thấp giá phí kiểm toán và sự thỏa hiệp với công ty được kiểm toán

3.7.2. Về phía Hội nghề nghiệp kiểm toán

3.7.3. Về phía Bộ tài chính

3.7.4. Về phía Ủy ban chứng khoán nhà nước

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về chất lượng báo cáo kiểm toán tài chính tại Việt Nam

Chất lượng báo cáo kiểm toán tài chính (BCKT) là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính. Đặc biệt, đối với các công ty niêm yết tại Việt Nam, BCKT không chỉ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư mà còn đến sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán. Việc nâng cao chất lượng BCKT là cần thiết để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao từ các nhà đầu tư và cơ quan quản lý.

1.1. Khái niệm và vai trò của báo cáo kiểm toán

BCKT là văn bản do kiểm toán viên phát hành, nhằm cung cấp ý kiến về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính. Vai trò của BCKT là tạo niềm tin cho nhà đầu tư và các bên liên quan, đồng thời giúp các công ty niêm yết tuân thủ các chuẩn mực kế toán và kiểm toán.

1.2. Tình hình hiện tại của báo cáo kiểm toán tại Việt Nam

Hiện nay, chất lượng BCKT tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Nhiều công ty kiểm toán chưa tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực kiểm toán, dẫn đến việc BCKT không phản ánh đúng thực trạng tài chính của công ty. Điều này gây ra sự thiếu tin tưởng từ phía nhà đầu tư và các cơ quan quản lý.

II. Những thách thức trong việc nâng cao chất lượng báo cáo kiểm toán

Việc nâng cao chất lượng BCKT đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự thiếu hụt về nguồn nhân lực chất lượng cao, sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty kiểm toán, và sự chưa hoàn thiện của hệ thống pháp lý. Những thách thức này cần được giải quyết để đảm bảo BCKT có chất lượng tốt hơn.

2.1. Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao

Nhiều công ty kiểm toán gặp khó khăn trong việc tuyển dụng và giữ chân nhân viên có trình độ chuyên môn cao. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng BCKT, khi mà đội ngũ kiểm toán viên không đủ năng lực để thực hiện các cuộc kiểm toán một cách hiệu quả.

2.2. Cạnh tranh không lành mạnh trong ngành kiểm toán

Sự cạnh tranh giữa các công ty kiểm toán đôi khi dẫn đến việc giảm giá dịch vụ kiểm toán, làm giảm chất lượng dịch vụ. Các công ty kiểm toán có thể cắt giảm chi phí để thu hút khách hàng, nhưng điều này có thể ảnh hưởng đến độ tin cậy của BCKT.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng báo cáo kiểm toán tài chính

Để nâng cao chất lượng BCKT, cần có những giải pháp đồng bộ từ phía các cơ quan quản lý, các công ty kiểm toán và các tổ chức nghề nghiệp. Các giải pháp này bao gồm việc hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kiểm toán, đào tạo nâng cao năng lực cho kiểm toán viên, và tăng cường giám sát từ các cơ quan chức năng.

3.1. Hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kiểm toán

Cần cập nhật và hoàn thiện các chuẩn mực kiểm toán để phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của thị trường. Việc này sẽ giúp các công ty kiểm toán có cơ sở vững chắc để thực hiện kiểm toán một cách chính xác và hiệu quả.

3.2. Đào tạo và nâng cao năng lực cho kiểm toán viên

Đào tạo liên tục cho kiểm toán viên là rất quan trọng. Các chương trình đào tạo cần tập trung vào việc nâng cao kỹ năng chuyên môn và cập nhật kiến thức mới về chuẩn mực kiểm toán và quy định pháp lý.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về chất lượng báo cáo kiểm toán

Nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao chất lượng BCKT không chỉ giúp tăng cường niềm tin của nhà đầu tư mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán. Các công ty niêm yết có BCKT chất lượng cao thường thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn và có giá cổ phiếu ổn định hơn.

4.1. Tác động của chất lượng báo cáo kiểm toán đến nhà đầu tư

Chất lượng BCKT ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Những BCKT chất lượng cao giúp nhà đầu tư có được thông tin chính xác và đáng tin cậy, từ đó đưa ra quyết định đầu tư hợp lý.

4.2. Kết quả nghiên cứu về chất lượng báo cáo kiểm toán tại Việt Nam

Nghiên cứu cho thấy rằng các công ty niêm yết có BCKT chất lượng cao thường có sự tăng trưởng ổn định về doanh thu và lợi nhuận. Điều này chứng tỏ rằng chất lượng BCKT có mối liên hệ chặt chẽ với hiệu quả hoạt động của công ty.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của báo cáo kiểm toán tại Việt Nam

Chất lượng BCKT tại Việt Nam đang trong quá trình cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Tương lai, với sự hỗ trợ từ các cơ quan quản lý và nỗ lực từ các công ty kiểm toán, chất lượng BCKT sẽ được nâng cao hơn nữa, góp phần vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán.

5.1. Triển vọng phát triển của báo cáo kiểm toán

Với sự phát triển của công nghệ và các chuẩn mực quốc tế, BCKT tại Việt Nam có khả năng sẽ được cải thiện đáng kể trong tương lai. Các công ty kiểm toán cần nhanh chóng thích ứng với những thay đổi này để nâng cao chất lượng dịch vụ.

5.2. Vai trò của các cơ quan quản lý trong việc nâng cao chất lượng báo cáo kiểm toán

Các cơ quan quản lý cần tăng cường giám sát và hỗ trợ các công ty kiểm toán trong việc thực hiện các chuẩn mực kiểm toán. Điều này sẽ giúp đảm bảo rằng BCKT được phát hành có chất lượng cao và đáng tin cậy.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh gỉải pháp nâng cao chất lượng báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu: - Các loại BCTC được kiểm toán - Đơn vị được kiểm toán - Ngày lập của BCTC VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 12 - Trách nhiệm của nhà quản lý - Trách nhiệm của kiểm toán viên. + Những nội dung căn bản của đoạn phạm vi: - Chỉ ra những chuẩn mực kiểm toán sử dụng để tiến hành kiểm toán. - Mục tiêu của cuộc kiểm toán.

Mô tả các công việc KTV thực hiện khi tiến hành kiểm toán. + Những nội dung căn bản của đoạn ý kiến: - Trình bày ý kiến về sự trung thực hợp lý hay không của BCTC được kiểm toán dựa trên cơ sở của cuộc kiểm toán. - Sư phù hợp giữa chuẩn mực lập BCTC và chuẩn mực kế toán quốc gia hay quốc tế và sự phù hợp yêu cầu của luật pháp. + Về Các loại ý kiến kiểm toán: BCKT bày tỏ ý kiến của KTV về BCTC được kiểm toán.

KTV sử dụng một trong các ý kiến sau cho phù hợp với những trường hợp cụ thể: - Ý kiến chấp nhận toàn phần - Ý kiến chấp nhận từng phần (ý kiến ngoại trừ) - Ý kiến không chấp nhận - Ý kiến từ chối. Lịch sử ra đời và phát triển của BCKT: BCKT ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nghề nghịệp kiểm toán. Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế, BCKT ngày càng thay đổi và hoàn thiện. Sự thay đổi này trải qua các thời kỳ như sau: - Thời kỳ sơ khai:.

Nghề nghiệp kiểm toán đã có từ lâu đời kể từ thời kỳ mà các thông tin phê chuẩn bằng cách đọc lên trên các buổi họp công khai. Sau này, với sự mở rộng quy mô của doanh nghiệp, nên đã dần có sự tách rời giữa quyền sở hữu của các cổ đông với chức năng điều hành của nhà quản lý, từ đó xuất hiện nhu cầu kiểm tra của chủ sở hữu để chống lại gian lận của nhà quản lý lẫn VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 13 những người làm công, vì thế kiểm toán độc lập đã ra đời vào thế kỷ 18 để đáp ứng nhu cầu này.  Vào những năm cuối thế kỷ 19, nhiều quốc gia ban hành nhiều đạo luật liên quan đến nghề nghiệp kiểm toán như: Tại Anh, vào 1844, đã ban hành Luật công ty Anh, tại Canada đạo luật công ty Ontario ban hành năm 1907.

Trong đó, có yêu cầu BCTC của các công ty niêm yết phải được kiểm toán và Luật công ty cũng đề cập đến trách nhiệm của KTV kiểm toán. Tuy nhiên ở thời kỳ này, hệ thống chuẩn mực kiểm toán chưa được xây dựng, vì vậy chưa có BCKT chuẩn. Mỗi KTV tự đưa ra BCKT cho mình. Để giảm thiểu trách nhiệm về mặt pháp lý, nhiều công ty kiểm toán hay KTV thường sử dụng ngôn từ theo hướng có lợi nhất cho công ty kiểm toán.

Các từ ngữ có thể rất mơ hồ hay có thể hiểu bằng nhiều cách khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy, BCKT ở các công ty khác biệt nhau rất đáng kể giữa các công ty. Một số báo cáo sử dụng từ ngữ rất ngắn gọn như là: “đã kiểm toán và nhận thấy rằng báo cáo chính xác”(audited and found correct) hay đã kiểm tra và nhận thấy là chính xác ("examined and found correct" (Gordon, 1961)), “lập chính xác hay trình bày trung thực và chính xác”, “trình bày trung thực tình hình tài chính" (Flesher and Flesher, 1980). Đôi khi có trường hợp, KTV chỉ đơn giản ký vào BCĐKT(Lee, 1970).

Chẳng hạn như báo cáo kiểm toán cho công ty Dominion Textile company Limited (1906) như sau: .Chúng tôi đã hoàn thành cuộc kiểm toán về thông tin tài chính của công ty cho năm kết thúc 31/3/1906. Trong suốt năm, chúng tôi đã thực hiện kiểm toán đều đặn mỗi tháng một lần. Các nghiệp vụ phát sinh được phản ảnh cẩn thận và chính xác vào sổ sách kế toán. Các khoản chi tiêu và việc mua sắm được xác nhận bởi các chứng từ, hóa đơn.

Báo cáo tiền hàng tháng từ các chi nhánh khác nhau, đều được hổ trợ bởi những hóa đơn chứng từ, và đã được ghi nhận chính xác trong sổ sách. Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và khoản vay thỉnh thoảng được công ty kiểm tra và được xác minh bởi giấy chứng nhận từ ngân hàng. Vật liệu tồn kho, thành phẩm, VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 14 sản phẩm dở dang, công cụ dụng cụ tại những chi nhánh của công ty đều được trình bày trong báo cáo chi tiết và tổng hợp, đều được xác nhận và chuẩn y bởi tổng giám đốc công ty.

BCTC hàng năm được lập cho cả 2 chi nhánh mua và chi nhánh thuê lại. Báo cáo này được lập chính xác từ sổ sách kế toán và chúng tôi đã ký xác nhận vào đó. Công việc suốt năm qua đã thực hiện thỏa đáng và bộ phận kế toán đã thực hiện các bút toán điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu của kiểm toán. Điều đó, làm cho chúng tôi tin vào nhân viên của công ty.

Có thể thấy rằng báo cáo trên không chứa đựng các nội dung chủ yếu như trong báo cáo hiện hành mà chỉ nêu ý kiến về một số khoản mục trên BCTC. Chính từ việc không có báo cáo chuẩn, nên trong giai đoạn này, một số công ty kiểm toán thường lạm dụng một số cụm từ như: Tùy thuộc vào (subject to) để có thể đạt được 2 mục đích: giữ được khách hàng và giảm thiểu trách nhiệm pháp lý. (Jone Carey4, trong một bài thơ viết về BCKT trong giai đoạn này. - Giai đoạn hình thành: Vào 1929, đã xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế đưa đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Hoa Kỳ.

Sự sụp đổ tháng 10/1929 làm cho niềm tin của công chúng về thị trường bị giảm sút. Nhiều nhà đầu tư lớn, nhỏ, ngay cả ngân hàng đã chịu các thiệt hại đáng kể từ cuộc khủng hoảng này. Để phục hồi nền kinh tế và niềm tin của công chúng về thị trường vốn, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật chứng khoán năm 1933 và luật giao dịch chứng khoán 1934. Từ đó, Ủy Ban chứng khoán (SEC) ra đời với mục đích bảo vệ nhà đầu tư, ổn định thị trường.

Theo Luật chứng khoán và luật giao dịch chứng khoán, BCTC của các công ty niêm yết cần được kiểm toán bởi KTV độc lập nhằm nâng cao tính minh bạch của thông tin BCTC. Từ đó, dẫn đến kết quả ra đời của thỏa thuận về BCKT chuẩn (First US standard Audit report 1934) giữa AIA (Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ ) và Ủy ban chứng khoản NewYork Hoa Kỳ. Người ta hy vọng rằng việc chuẩn hóa từ ngữ sẽ hạn chế sự mơ hồ trong diễn đạt, sẽ làm người đọc hiểu rõ hơn nhằm phân VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 15 biệt các loại ý kiến khác nhau.

Nghề nghiệp kiểm toán cũng nhận thấy việc chuẩn hóa từ ngữ còn là lá chắn để bảo vệ KTV về phương diện pháp lý. Báo cáo chuẩn trong giai đoạn này bao gồm 2 đoạn: đoạn mô tả công việc và đoạn cho ý kiến. Thuật ngữ báo cáo chuẩn chỉ đề cập đến báo cáo dưới hình thức ngắn gọn trong đó KTV cho ý kiến chấp nhận toàn phần, không có đề cập đến ý kiến ngoại trừ hay thêm một đoạn giải thích. Mẫu của BCKT chuẩn như sau: Chúng tôi đã kiểm tra bảng cân đối kế toán của công ty XYZ vào ngày 31/12/1933, và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của năm 1933.

Khi thực hiện, chúng tôi kiểm tra các sổ sách kế toán và tài liệu hổ trợ khác cũng như đã thu thập thông tin và sự giải thích từ nhân viên văn phòng và người lao động của công ty. Chúng tôi cũng đã soát xét về mặt tổng thể phương pháp kế toán và các nghiệp vụ liên quan đến kết quả kinh doanh của công ty phát sinh trong năm kiểm toán, nhưng chúng tôi không kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ phát sinh. Theo ý kiến chúng tôi, dựa vào sự kiểm tra, bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh đính kèm theo đã trình bày trung thực phù hợp với nguyên tắc chấp nhận và áp dụng nhất quán trong năm tại ngày 31/12/1933. Có thể nói đây là một bước tiến lớn trong lịch sử của BCKT, nhờ việc chuẩn hóa.

BCKT trong giai đoạn này yêu cầu ý kiến của KTV được tách rời ở một đoạn riêng, không trình bày chung với việc mô tả những công việc mà KTV thực hiện trong cuộc kiểm toán. So với thời kỳ sơ khai, hình thức và nội dung của BCKT được quy định rõ ràng. Từ ngữ được sử dụng thống nhất hơn, tránh những từ ngữ mơ hồ hay không hợp lý. Như việc lạm dụng cụm từ tùy thuộc vào, chứng nhận (certify), chính xác (correct) trong BCKT từ trước đó đã bị hạn chế.

- Giai đoạn phát triển: Với sự phát triển nền kinh tế sau giai đoạn khủng hoảng, các yêu cầu đối với nghề nghiệp kiểm toán ngày càng cao, đặc biệt đối với việc kiểm toán cho các công ty niêm yết. Trước tình hình đó, năm 1948, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ đã ban hành thủ tục kiểm toán SAP 24: “Mẫu BCKT” (1948). BCKT có mẫu như sau: VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software http://www.com For evaluation only. 16 Chúng tôi đã kiểm tra bảng cân đối kế toán của công ty X tại ngày 31/12/19.

cũng như các báo cáo khác liên quan như báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Cuộc kiểm tra của chúng tôi được thực hiện phù hợp với chuẩn mực kiểm toán chấp nhận rộng rãi, và do vậy sẽ bao gồm việc kiểm tra các tài liệu, sổ sách kế toán cũng như những thủ tục kiểm toán mà chúng tôi cho là cần thiết. Theo ý kiến của chúng tôi, bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh đã trình bày trung thực tình hình tài chính của công ty X tại 31/12/19, phù hợp với những nguyên tắc kế toán chấp nhận rộng rãi, áp dụng nhất quán với các phương pháp của năm trước. Những năm sau đó, để đáp ứng yêu cầu của sự thay đổi về Luật, nhiều đề nghị là trong báo cáo cần bổ sung từ “trình bày trung thực "present fairly".

Đến năm 1959, trong báo cáo, đuợc yêu cầu thêm phần phù hợp với GAAP và phương pháp kế toán được áp dụng nhất quán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ