phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn sẽ đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận cơ bản về năng lực đảm bảo an ninh công nghệ Chƣơng 2: Thực trạng năng lực đảm bảo an ninh công nghệ tiếp nhận, bảo quản và cấp phát tại Công ty Xăng dầu Quân đội Khu vực 1 Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đảm bảo an ninh công nghệ tiếp nhận, bảo quản và cấp phát tại Công ty Xăng dầu Quân đội Khu vực 1 giai đoạn 2019 - 2023 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC BẢO ĐẢM AN NINH CÔNG NGHỆ 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Công nghệ Theo Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2013 (1), công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phƣơng tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Theo Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dƣơng, Liên Hiệp Quốc (ESCAP): Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phƣơng pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Theo Ramanathan (12) thì công nghệ có thể đƣợc định nghĩa bao gồm bốn thành phần hay bốn yếu tố là: Kỹ thuật, con ngƣời, tổ chức, thông tin.
Trong đó, kỹ thuật bao gồm các hệ thống phụ trợ chuyển đổi vật liệu, xử lý thông tin. Con ngƣời bao hàm lao động của con ngƣời với các kỹ năng cần thiết để thực hiện thao tác vận hành thiết bị, hỗ trợ sản xuất và bảo trì sữa chữa máy móc. Tổ chức hỗ trợ theo hệ thống các nguyên tắc, thao tác, thu xếp… để quản lý hiệu quả việc sử dụng thành phần kỹ thuật bởi con ngƣời. Thông tin là tri thức thu đƣợc cần thiết để thực hiện hóa tiềm năng của các thành phần khác.
Thực tế, định nghĩa này đã giới thiệu bốn nhóm yếu tố cấu thành công nghệ nhƣng lại tƣơng đối phức tạp và có phạm vi tƣơng đối rộng với những yếu tố nội hàm nhỏ hơn trong từng nhóm. Theo Tarek Khalil (13) thì công nghệ có thể đƣợc hiểu là tất cả tri thức, sản phẩm, quy trình, dụng cụ, phƣơng pháp và các hệ thống đƣợc sử dụng để sản xuất ra hàng hóa hay cung ứng các dịch vụ. Thực tế, định nghĩa này của 8 Tarek Khalil có phạm vi tƣơng đối rộng và có thể đƣợc sử dụng theo nhiều cách hiểu khác nhau trong những trƣờng hợp khác nhau. Tuy nhiên, nhƣợc điểm của khái niệm bao quát chung là không thể giúp chúng ta phân định đƣợc ranh giới tƣơng đối rõ ràng giữa các yếu tố hay nhóm yếu tố nội hàm cấu thành công nghệ.
Kế thừa và phát triển sáng tạo các quan điểm khác nhau về công nghệ của các học giả quốc tế và Việt Nam, theo PGS. Hoàng Đình Phi (8), công nghệ là việc sử dụng kết hơp sáng tạo 03 yếu tố là máy móc/công cụ (Machine/Tools), tri thức (Knowledge) và kỹ năng (Skill) để biến đầu vào thành một sản phẩm hay một dịch vụ. Trong đó, thành phần Máy móc/Công cụ (M) đƣợc hiểu là tất cả các thiết bị phần cứng của công nghệ nhƣ máy móc, thiết bị, công cụ. có gắn hoặc không gắn với đất đai, văn phòng, nhà xƣởng, hệ thống sản xuất liên quan trực tiếp tới công nghệ.
Thành phần tri thức (K) đƣợc hiểu là tất cả các yếu tố liên quan tới tri thức trong công nghệ bao gồm nhƣng không giới hạn nhƣ: thiết kế, bản vẽ, bí quyết sản xuất, bí quyết kinh doanh, quy trình sản xuất, quy trình cung ứng dịch vụ. Cuối cùng, thành phần Kỹ năng (S) là tất cả các kỹ năng liên quan trực tiếp tới việc vận hành công nghệ để làm ra một sản phẩm hay cung ứng một dịch vụ. * Phương trình công nghệ: Công nghệ Máy Tri thức Kỹ năng Technology móc/Công Knowledge Skills (T) cụ (K) (S) Machines/Tools (M) Hình 1.1 Phƣơng trình công nghệ Nguồn: PGS.Hoàng Đình Phi (8) 9 Nhƣ vậy chúng ta có thể thấy công nghệ sẽ thay đổi khi kiến thức, kỹ thuật của con ngƣời tăng lên.2 Năng lực công nghệ Cho đến cuối những năm 1970, sự phát triển công nghệ ở các nƣớc đang phát triển chủ yếu thông qua chuyển giao công nghệ từ các nƣớc phát triển. Do sự khác biệt quá lớn ở một loạt các yếu tố ở hai nhóm nƣớc cho nên tỷ lệ thành công trong việc chuyển giao này không cao.
Trong bối cảnh đó các nghiên cứu của viện hàn lâm và của các tổ chức quốc tế về công nghệ đã chỉ ra đƣợc yêu cầu thành công đối với bên tiếp nhận công nghệ là phải có trình độ nhận thức, năng lực để giải quyết các hoạt động tự lập, giải quyết sự cố một cách chủ động mà không hoàn toàn dựa vào bên giao. Sự phát triển công nghệ thành công đòi hỏi bên tiếp nhận công nghệ cần có năng lực công nghệ nhất định. Trong bối cảnh nhƣ vậy, đã có rất nhiều nỗ lực để đƣa ra quan niệm về năng lực công nghệ. Dƣới đây là một số quan niệm đó: Theo Sanjaya Lall (14) năng lực công nghệ của ngành, cơ sở, quốc gia là khả năng triển khai những công nghệ đã có một cách hiệu quả và đƣơng đầu đƣợc với những thay đổi lớn của công nghệ.
Theo định nghĩa này, có hai mức hoạt động phát triển công nghệ, cũng là hai cơ sở để phân tích năng lực công nghệ đó là: (i) sử dụng hiệu quả công nghệ sẵn có, và (ii) thực hiện đổi mới công nghệ thành công. Fransman (15) thì đối với các quốc gia đang phát triển thì việc đánh giá năng lực công nghệ phải bao gồm các yếu tố: (i) Năng lực tìm kiếm các công nghệ để thay thế, lựa chọn và nhập khẩu công nghệ thích hợp; (ii) Năng lực thích nghi công nghệ nhập khẩu với hoàn cảnh địa phƣơng tiếp nhận; (iii) Năng lực cung cấp công nghệ sẵn có và đổi mới; (iv) Năng lực thể chế hóa việc tìm kiếm những đổi mới, những đột phá quan trọng nhờ phát triển các phƣơng tiện nghiên cứu, triển khai trong nƣớc; và (v) Năng lực tiến hành các nghiên cứu cơ bản để tiếp tục nâng cấp công nghệ. 10 Tổ chức Phát triển công nghiệp, Liên hợp quốc (UNIDO): Xác định các yếu tố cấu thành năng lực công nghệ bao gồm: khả năng đào tạo nhân lực; khả năng tiến hành nghiên cứu cơ bản; khả năng thử nghiệm các phƣơng tiện kỹ thuật; khả năng tiếp nhận và thích nghi các công nghệ; khả năng cung cấp và xử lý thông tin. Ngân Hàng Thế Giới (WB) đề xuất phân chia năng lực công nghệ thành ba nhóm độc lập: Năng lực sản xuất, bao gồm: quản lý sản xuất, kỹ thuật sản xuất, bảo dƣỡng, bảo quản tƣ liệu sản xuất, marketing sản phẩm; Năng lực đầu tƣ, bao gồm: quản lý dự án, thực thi dự án, năng lực mua sắm, đào tạo nhân lực; Năng lực đổi mới, bao gồm: khả năng sáng tạo, khả năng tổ chức thực hiện đƣa kỹ thuật mới vào các hoạt động kinh tế.
Hoàng Đình Phi (8) năng lực công nghệ có thể đƣợc định nghĩa ở trên hai cấp độ. Ở cấp độ quốc gia, năng lực công nghệ đƣợc hiểu là khả năng sở hữu, phát triển và sử dụng có hiệu quả tất cả các công nghệ cao và hệ thống công nghệ thiết yếu để bảo vệ tổ quốc, để nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia và phát triển bền vững. Ờ cấp độ doanh nghiệp, năng lực công nghệ của doanh nghiệp là khả năng sở hữu, phát triển và sử dụng có hiệu quả các công nghệ khác nhau để hình thành hệ thống công nghệ tích hợp nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và duy trì khả năng cạnh tranh bền vững. So với các quan điểm trƣớc đây, quan điểm của PGS.
Hoàng Đình Phi không chỉ làm rõ nội hàm của năng lực công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp mà còn chỉ ra mối quan hệ tƣơng hỗ giữa việc phát triển năng lực công nghệ với duy trì khả năng cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp.2 Một số đặc điểm của công nghệ Trong nền kinh tế thị trƣờng, công nghệ là một sản phẩm nhƣng là một sản phẩm đặc biệt. Do đó, ngoài những đặc trƣng của sản phẩm thông thƣờng, nó có những đặc trƣng mà chỉ công nghệ sản sinh ra sản phẩm mới có. Các đặc trƣng đó của công nghệ là: vòng đời và chu trình sống của công nghệ: 11 1.1 Vòng đời của các thành phần công nghệ - Vòng đời của vật tƣ - kỹ thuật (T): Quá trình hình thành các phần cứng của công nghệ bắt đầu từ nghiên cứu nhu cầu; thiết kế, chế tạo; sản xuất thử sau đó sản xuất hàng loạt; tuyên truyền, quảng bá, sử dụng; cuối cùng nó cũng đƣợc thay thế bởi công nghệ mới khi công nghệ này đi vào trạng thái bão hòa rồi giảm khả năng sinh lợi. - Vòng đời của nhân lực khoa học công nghệ (H): Để có đƣợc con ngƣời có tri thức và kỹ năng về công nghệ, con ngƣời trải qua quá trình nuôi dƣỡng; giáo dục; đào tạo, phát triển và nâng cao kiến thức, tay nghề.
Một đời ngƣời trải qua nhiều công nghệ do đó họ không kết thúc cùng công nghệ đó. - Vòng đời của thông tin công nghệ (I): Vòng đời của thông tin bắt đầu là tìm kiếm thông tin thông qua việc phân tích, đặt câu hỏi và trả lời các câu hỏi đó; lựa chọn thông tin từ các nguồn thông tin khác nhau; tổ chức lƣu trữ hoặc chế tạo các sản phẩm thông tin; sử dụng; phổ biến, cung ứng các dịch vụ thông tin (ngân hàng thông tin). Điều cần lƣu ý ở đây là, một thông tin có thể dùng trong nhiều công nghệ. - Vòng đời của tổ chức công nghệ (O): Tổ chức công nghệ hình thành bắt đầu từ việc nhận thức vấn đề; chuẩn bị (thiết kế) và thiết lập tổ chức; điều hành công việc; hƣớng dẫn, thúc đẩy và cải tổ cho phù hợp với sự phát triển của các thành phần khác trong công nghệ.2 Chu trình sống của công nghệ Chu trình sống của công nghệ mô tả quy luật phát triển khởi đầu, các giai đoạn phát triển và kết thúc của một công nghệ theo thời gian.
Phần cứng và phần mềm của công nghệ có chu trình sống khác nhau. - Đối với công nghệ phần cứng: + Các công nghệ cứng (giá trị phần cứng của công nghệ chiếm ƣu thế) có chu trình sống tƣơng tự các sản phẩm thông thƣờng.