CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NHTM 1.1 Hoạt động huy động tiền gửi của NHTM 1.1 Khái niệm hoạt động huy động tiền gửi Theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng 2010 tại khoản 12 điều 4 thì Hoạt động Ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: + Nhận tiền gửi. + Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Như vậy, hoạt động nhận tiền gửi là một trong ba hoạt động chính của NHTM. Khái niệm nhận tiền gửi được định nghĩa một các tổng quát trong Luật các Tổ chức tín dụng 2010 tại khoản 13 điều 4 : “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
” Có thể nói rằng NHTM là một loại định chế tài chính trung gian khá quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Do thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM có điều kiện huy động nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội tập trung lại thành số lượng đủ lớn để cấp tín dụng hay đầu tư cho các tổ chức kinh tế, cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát triển kinh tế- xã hội, đồng thời đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.2 Các loại hình tiền gửi của NHTM 1.1 Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi là tiền gửi giao dịch (Transaction deposit, demand deposit) hay tiền gửi thanh toán (payment deposit). Là hình thức tiền gửi mà khách hàng gửi tiền vào NHTM với mục đích là được Ngân hàng thanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 toán và thu chi hộ theo yêu cầu của khách hàng. Đây là nguồn vốn tiềm năng có quy mô lớn trong khi chi phí huy động vốn rất thấp, nó gắn liền và liên quan đến hầu hết mọi hoạt động giao dịch của Ngân hàng.
Tiền gửi giao dịch là một trong những nguồn vốn biến động nhiều nhất và Ngân hàng khó có thể dự báo về quy mô tiền gửi giao dịch có thể huy động. Đồng thời kỳ hạn tiềm năng của tiền gửi giao dịch là ngắn nhất bởi vì nó có thể được khách hàng rút ra mà không cần báo trước.Rose 2001, Quản trị Ngân hàng thương mại, Hà Nội: NXB Tài chính) Số dư tiền gửi thanh toán thường xuyên biến động, khó lường vì khách hàng có thể gửi tiền vào, rút ra, chủ động và linh hoạt thanh toán chuyển khoản bất cứ lúc nào mà không bị giới hạn số lần gửi, rút hay thanh toán. Để đảm bảo an toàn thì NHTM thực hiện dự trữ bắt buộc với tỷ lệ cao hơn so với các loại tiền gửi khác. Tuy nhiên tại một thời điểm nhất định khách hàng vẫn luôn duy trì số dư tiền gửi nhất định, NHTM có thể tận dụng nguồn vốn này cấp tín dụng ngắn hạn.
Theo Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2013) thì đối tượng sử dụng sản phẩm tiền gửi thanh toán là các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân… Các đối tượng này sử dụng không vì mục đích hưởng lãi, mà chỉ nhằm phục vụ nhu cầu giao dịch thanh toán cho chính mình. Vì vậy, lãi suất không phải là cách duy nhất để thu hút nguồn vốn này mà chủ yếu là các sản phẩm, dịch vụ của NHTM cung cấp phải đảm bảo tiện ích cho khách hàng, được tiến hành một cách đơn giản, thuận lợi, an toàn và nhanh chóng. Thông thường, khách hàng có nhu cầu mở tài khoản tại các NHTM có quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp, sản phẩm đa dạng và công nghệ hiện đại. Hiện nay, các NHTM cung cấp cho khách hàng có tiền gửi thanh toán rất nhiều các dịch vụ tiện ích như: khách hàng có thể nộp và rút tiền từ tài khoản thanh toán bất cứ lúc nào, thanh toán chuyển khoản với các hình thức thanh toán phổ biến như ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, chuyển tiền,… Đặc biệt NHTM hiện đang cung cấp các dịch vụ Ngân hàng điện tử như dịch vụ BSMS, IBMB, thẻ thanh toán để rút tiền tự động tại các máy ATM 24/24 hoặc thanh toán hàng hóa dịch vụ tại các điểm chấp nhận thẻ thanh toán.
Khách hàng có thể sử dụng số tiền trên tài khoản thanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 toán để thanh toán nợ gốc và lãi vay, chứng minh năng lực tài chính hay dùng để đảm bảo mở thư tín dụng, ký quỹ, bảo lãnh… Bên cạnh những tiện ích trên, các NHTM còn cấp tín dụng dưới hình thức cho vay thấu chi tức là khách hàng được sử dụng quá số dư với hạn mức được cấp trên tài khoản tiền gửi thanh toán.2 Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn là hình thức tiền gửi huy động các khoản tiền để dành tạm thời chưa sử dụng, mà khi gửi vào khách hàng chỉ được rút ra sau một khoảng thời gian nhất định. Đối tượng khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và các NHTM. Các Ngân hàng sử dụng hình thức tiền gửi này khá phổ biến để giải quyết tình trạng thừa và thiếu vốn nhằm đảm bảo tính thanh khoản cho Ngân hàng. Nguồn vốn này tương đối ổn định, kỳ hạn được xác định cụ thể nên Ngân hàng có thể sử dụng để cấp tín dụng ngắn hạn và cả trong trung dài hạn.
Mục đích gửi tiền là hưởng lãi, nên khách hàng có xu hướng chung chọn Ngân hàng có lãi suất cao. Do đó, các NHTM thường sử dụng công cụ lãi suất để thu hút nguồn vốn này. Ngoài ra, khách hàng còn gửi tiền với mục đích để dự phòng cho tương lai và an toàn về tài sản. Hình thức tiền gửi này còn có một số tiện ích sau: + Khách hàng có thể rút trước hạn một phần hay từng phần dưới hình thức tiền mặt hay chuyển khoản.
+ Khách hàng có thể sử dụng hợp đồng tiền gửi kỳ hạn để cầm cố vay hay chiết khấu tại các NHTM. + Sử dụng các hợp đồng tiền gửi kỳ hạn để chứng minh năng lực tài chính. + Đặc biệt, có thể chuyển đổi sang các hình thức tiền gửi khác, tùy theo quy định của từng NHTM.3 Tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động vốn chủ yếu từ khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào Ngân hàng với mục đích sinh lời và an toàn về tài sản. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn ở các NHTM.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Có hai hình thức tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng gửi được rút tiền bất cứ thời điểm nào, rút một phần hay toàn phần bằng tiền mặt, hoặc thanh toán chuyển khoản. Vì thế, đối tượng khách hàng chủ yếu là cá nhân có các khoản tiền tạm thời chưa sử dụng. Hình thức tiền gửi tiết kiệm này có thể dễ dàng chuyển đổi sang hình thức tiền gửi khác, chuyển nhượng cho người khác, hoặc có thể sử dụng để chứng minh năng lực tài chính.
Khách hàng có thể sử dụng số tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tài sản bảo đảm để cầm cố thế chấp và vay Ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng gửi chỉ được rút ra sau một kỳ hạn nhất định. Ngân hàng có thể huy động dưới hình thức sổ tiết kiệm hay chứng chỉ tiền gửi. Nguồn huy động chủ yếu từ những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của cá nhân chưa sử dụng tại thời điểm hiện tại mà để dành tích lũy trong tương lai, họ gửi vào Ngân hàng với mục đích nhận lãi và đảm bảo an toàn tài sản.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể rút trước hạn một phần hay toàn phần bằng tiền mặt hay chuyển khoản. Khi rút trước hạn tiền lãi của khách hàng sẽ được tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Hình thức tiền gửi này cũng có những tiện ích như tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.Rose 2001, khoản tiền tiết kiệm được lập ra để thu hút vốn của những người muốn dành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hay cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai. Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch.
Trong khi chi phí trả lãi cao, nhưng chi phí duy trì và quản lý đối với tài khoản tiền gửi tiết kiệm này nói chung khá thấp.4 Phát hành Giấy tờ có giá Các giấy tờ có giá (GTCG): là giấy chứng nhận do NHTM phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường, trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa NHTM và người mua. GTCG có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Căn cứ vào quyền sở hữu, có thể chia GTCG thành hai loại: + GTCG ghi danh: là GTCG phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ, có ghi tên người sở hữu. + GTCG vô danh: là GTCG phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu.
GTCG vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ nó. Căn cứ vào thời hạn, GTCG có thể chia thành hai loại là GTCG ngắn hạn và GTCG dài hạn. Đối tượng mua GTCG là tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp với mục đích sinh lời và đảm bảo an toàn tài sản. Người sở hữu có thể sử dụng các GTCG chứng minh năng lực tài chính, cơ sở bảo đảm tín dụng.
Trong thời gian hiệu lực thanh toán người sở hữu GTCG có thể chuyển nhượng cho người khác hoặc cầm cố và chiết khấu tại các NHTM. Nguồn vốn huy động từ việc phát hành GTCG tương đối ổn định cho một mục đích nào đó của Ngân hàng. Lãi suất huy động của hình thức này phụ thuộc vào tính cấp thiết của mục đích huy động vốn nên thường có lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường, do đó hấp dẫn hơn đối với khách hàng. Nguồn vốn này chỉ được huy động trong một thời gian nhất định, khi đã huy động đủ nguồn vốn theo yêu cầu thì Ngân hàng sẽ tạm thời ngừng việc huy động vốn từ hình thức này.3 Vai trò của tiền gửi đối với hoạt động kinh doanh của NHTM 1.