CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE CƠ BẢN VE HOẠT ĐỘNG CUA PGD TRUC THUQC NHTM 1.1 Giới thiệu về PGD 1.1 Khái niệm PGD Theo khoản 3 Điều 3 TT 16/VBHN-NHNN quy định về mang lưới hoạt động của ngân hàng thương mại có nêu “Phòng giao dịch là đơn vị phụ thuộc ngân hàng thương mại, được quản lý bởi một chi nhánh ở trong nước của ngân hàng thương mại, hạch toán báo số, có con dấu, có địa điểm đặt trụ sở trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở chỉ nhánh quản lý.” Cũng theo Điều 3, NHTW quy định PGD không được phép cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân hoặc doanh nghiệp một khoản tương đương là hai (02) tỷ đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ, trừ khi khoản tín dụng này có tài sản đảm bảo là tiền mặt, số tiết kiệm, giấy tờ có giá do chính bản thân NHTM phát hành hoặc những tài sản có mức độ rủi ro bằng không như trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc nhà nước; PGD cũng không được phép cung cấp các dịch vụ thanh toán quốc tế. Đề thành lập một PGD cũng cần có các quy định cụ thé. Và điều 11 trong thông tư này đã quy định: “1. Đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 của Thông tư này.
Chi nhánh dự kiến quản lý phòng giao dịch phải đáp ứng các điều kiện: a) Có thời gian hoạt động tối thiểu 12 tháng tính từ ngày khai trương hoạt độngđến thời điểm đề nghị; b) Có tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ tại thời điểm 31 tháng 12 năm trước liền kề năm đề nghị không vượt quá 3% hoặc một tỷ lệ khác theo quyết định Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ; c) Không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hang băng hình thức phạt tiền trong thời hạn 12 tháng trở về trước tính từ thời điểm đề nghị. Đáp ứng điều kiện về số lượng phòng giao dịch được thành lập theo quy định tại Điều 11 Thông tư này.” Các điều kiện dé thành lập PGD mới khá khắt khe dé đảm bao Chi nhánh của NHTM có đủ khả năng quản lý PGD trực thuộc của mình. Ngoài vấn đề về hoạt động như vốn, nợ xấu thì số lượng PGD trực thuộc cũng cần được quy định cụ thể dé có thé kiểm soát tốt hoạt động kinh doanh của NHTM, bởi vậy Điều 11 của TT 16/VBHN-NHNN cũng đã quy định về số lượng PGD được phép thành lập trên một dia ban. Số lượng phòng giao dịch của ngân hàng thương mai tai khu vực nội thành thành phố Hà Nội, khu vực nội thành thành phố Hồ Chí Minh không lớn hơn quá hai (02) lần số lượng chi nhánh hiện có của ngân hàng thương mại tại mỗi khu vực này.
Số lượng phòng giao dịch của ngân hàng thương mại tại khu vực ngoại thành thành phó Hà Nội, khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác không lớn hơn quá ba (03) lần số lượng chỉ nhánh hiện có của ngân hàng thương mại tại mỗi khu vực này. Số lượng phòng giao dịch được quản lý bởi một chi nhánh do ngân hàng thương mại tự quyết định phù hợp với năng lực quản lý của mỗi chỉ nhánh và các quy định tại khoản 1, 2 Điều này.” Từ đây ta có thé thấy được, với mỗi một Chi nhánh, dé có thể thành lập được một PGD trực thuộc dé phân chia và hỗ trợ công việc cần đáp ứng được đầy đủ và chính xác các quy định của nhà nước về thời gian hoạt động tối thiểu, số vốn điều lệ, tỷ lệ nợ xấu hay sé lượng PGD có thé thành lập trên địa bản.2 Quan hệ của PGD với NH cấp quan lý PGD là đơn vi trực thuộc NHTM và chịu sự quản lý trực tiếp của Chi nhánh tại địa bàn hoạt động. Do đó mọi hoạt động kinh doanh của PGD đều được giám sát một cách chặt chẽ qua hệ thống bởi Chi nhánh. Với chi nhánh, vừa là đơn vi kinh doanh vừa quan lý hoạt động của các PGD trực thuộc, bởi vậy Chi nhánh cần có một hệ thống đội ngũ nhân viên có năng lực và giàu kinh nghiệm để có thể kiểm soát được đầy đủ các hoạt động của cả chỉ nhánh mình và các PGD trực thuộc, đảm bảo các hoạt động diễn ra suôn sẻ, đúng quy trình, hợp lý.2 Hoạt động cơ bản của PGD 1.1 Hoạt động huy động Một ngân hàng có thể kinh doanh được vấn đề đầu tiên cần được giải quyết là vốn.Vốn của ngân hàng cũng được phân làm nhiều loại gồm vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay và vốn khác.Mỗi loại vốn sẽ có một cách thức huy động khác nhau và chi phí cho mỗi loại cũng khác nhau.
Có khá nhiều cách phân loại các hình thức huy động vốn nhưng hiện nay các ngân hàng chủ yếu phân loại theo bản chất các nghiệp vụ của huy động vốn nhằm giúp cho quá trình kiêm soát và sử dụng vốn dé dàng hơn.1 Huy động vốn thông qua tiền gửi thanh toán Nguồn vốn mang lại khi huy động bằng hình thức này khá lớn, nhưng lại không đảm bảo được về mặt thời gian khi sử dụng do đây là hình thức gửi tiền không kỳ hạn, khách hàng có thé rút tiền, chuyên tiền hoặc sử dụng các dich vụ khác bất cứ lúc nào họ cần nên việc đảm bảo một tỷ lệ dự trữ có sẵn là điều rất quan trọng của ngân hàng. Tiếp đến là vấn đề lãi suất, do đây là khoản tiền gửi chủ yếu dùng để thanh toán và không quan trọng về lãi suất do đó lãi suất của loại hình này không cao, không làm tăng quá nhiều chi phí cho việc trả lãi. Tuy nhiên hình thức này lại tạo ra một loạt các chi phí phi lãi của ngân hàng như chi phí vận hành các cây ATM, chi phí quản lý tài khoan,. Tuy nhiên đây vẫn là hình thức huy động với chi phí thấp nhất.
Ngoài ra nguồn vốn tạo ra không ổn định do đó dé sử dụng có hiệu quả ngân hàng cần nắm được các hướng chỉ tiêu của khách hàng một cách hợp lý để dự trữ khoản tiền phù hợp cho giải ngân lúc cần thiết. Đối với khách hàng thì đây là một hình thức đang khá mới tại Việt Nam hiện nay. Do nhu cầu sử dụng tiền mặt vẫn phổ biến trong dân cu do đó việc sử dụng tài khoản thanh toán để chỉ trả cho các hóa đơn dịch vụ chưa được phổ biến, thêm vào đó việc người sử dụng cần nắm được công nghệ đề có thê kiểm soát được tài khoản thanh toán của mình, các khoản thu chi cũng là một điều cần được xem xét khi triển khai các dịch vụ này. Tiếp đó lãi suất mà khách hàng yêu cầu cho loại hình này cũng không cao do nhu cầu sử dụng loại tài khoản này mọi lúc mọi nơi, cho những chỉ tiêu hàng ngày, chuyền tiền nhanh chóng, thuận tiện.
Với một nước đang phát triển thì tỷ lệ vốn huy động được từ hình thức này không cao. Tuy nhiên với các nước phát triển đây lại là hình thức huy động vốn phổ biến do thói quen sử dụng tiền mặt rất ít, chủ yêu dùng tài khoản dé chi trả cho các dịch vụ. Do đó đây là một hình thức tiềm năng mà các ngân hàng cần nhắm tới để phát triển.2 Huy động vốn thông qua tién gửi tiết kiệm Đây là hình thức phổ biến nhất tại Việt Nam.Khách hàng và ngân hàng sẽ có những cam kết với nhau về thời hạn gửi tiền và mức lãi suất áp dụng với từng khoản tiền gửi. Với hình thức này, ngân hàng có thé tận dụng được nguồn vốn nhàn roi trong dân cư va các doanh nghiệp để sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình.
Gửi tiết kiệm có thé gửi có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn.Với hình thức không kỳ hạn, cũng gần tương tự như tiền gửi thanh toán tuy nhiên lãi suất của loại hình này cao hơn một chút so với tiền gửi thanh toán. Còn với gửi tiết kiệm có kỳ hạn, đây là loại hình mà ngân hàng tập trung phát triển do nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư là rất lớn, nêu gửi tiết kiệm có kỳ hạn sẽ giúp ngân hàng có một khoản tiền ổn định để thực hiện hoạt động kinh doanh, đồng thời có thể dự đoán được thời điểm rút tiền của khách hang dé có một tỷ lệ dit trữ hợp lý, giảm chi phí quản lý. Tuy nhiên lãi suất của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn khá cao, nhất là trong trường hợp các 10 ngân hàng đều muốn huy động được thật nhiều vốn, do đó các ngân hàng đều muốn có một mức lãi suất phù hợp đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và đảm bảo được mức chỉ phí bỏ ra cho mỗi khoản vốn huy động được. Đối với khách hàng, với một số tiền nhàn rỗi và có thé đem đến ngân hàng gửi dé sinh lãi, khach hàng tất nhiên sẽ chon các ngân hàng nào có lãi suất cao, dịch vụ tốt, nhiều ưu đãi để làm điểm đến.3 Huy động vốn thông qua phát hành giấy tở có giá Một hình thức huy động khác được các ngân hàng sử dụng khá phổ biến trong nền kinh tế hiện nay đó là phát hành giấy tờ có giá.
Trong trường hợp nhận thấy có các cơ hội kinh doanh tốt ngân hàng không muốn bỏ qua nhưng lại không đủ vốn, để huy động được từ tiền gửi tiết kiệm lại khá mắt thời gian, có thé sẽ bỏ lỡ cơ hội hiện có, ngân hàng có thể lựa chọn phát hành giấy tờ có giá, vừa có thể huy động được số vốn mình cần, vừa kiểm soát được thời gian sử dụng vốn, có thể nhanh chóng thực hiện các dự án một cách thuận tiện, đúng tiễn độ. Hai loại giấy tờ chủ yếu được sử dụng đó là trái phiếu và kỳ phiếu.Kỳ phiếu được phát hành một cách thường xuyên hơn và thường là ngắn hạn từ 3 tháng, 6 tháng đến 12 tháng.Còn trái phiếu thường được phát hành với thời gian đáo hạn là trung và dài hạn, tùy vào điều kiện của mỗi ngân hàng.Đi kèm với việc huy động vốn nhanh là lãi suất.Lãi suất của giấy tờ có giá thường cao hơn so với các phương thức phổ biến trên thị trường. Với trái phiếu còn có nhiều phương thức trả lãi linh hoạt theo từng thời điểm và yêu cầu của khách hàng như trả lãi trước, trả lãi định kỳ hay trả lãi cuối kỳ. Đây là hình thức huy động vốn được các nhà đầu tư khá ưa thích do nó có độ tin cậy cao và lợi nhuận đem lại cũng cao hơn so với tiền gửi tiết kiệm.