Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tín dụng HSX tại các NHTM. Chương 2: Thực trạng cho vay HSX tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Tiền Hải. Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay HSX tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Tiền Hải. Đặng Thị Hà My Lớp: NHC-K12 4 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT TẠI CÁC NHTM 1.
Hộ sản xuất và vai trò của HSX trong nền kinh tế. Khái niệm về HSX. Hộ sản xuất nông nghiệp là hình thái kinh tế xuất hiện từ lâu đời, từ thời công xã nguyên thủy và có hầu hết ở tất cả các nƣớc trên thế giới. Trong mỗi thời kỳ, mỗi nƣớc khác nhau thì HSX có những cách thức, quy mô, vai trò và phát triển sản xuất khác nhau.
Một số thuật ngữ khác đƣợc dùng để thay thế thuật ngữ "hộ sản xuất" là "hộ", "hộ gia đình". Tại NĐ số 14/CP ngày 02/03/1993 của Thủ tƣớng Chính Phủ về chính sách cho HSX vay vốn để phát triển nông, lâm, ngƣ, diêm nghiệp và kinh tế nông thôn đã quy định về thành phần của HSX: HSX là mô hình kinh tế bao gồm các hộ nông dân, hộ tƣ nhân, cá thể, công ty cổ phần, các tổ chức hợp tác và các DN Nhà nƣớc, thành viên của các HTX, tập đoàn sản xuất và các DN Nhà nƣớc hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ trong các ngành nông – lâm – ngƣ – diêm nghiệp và tiểu, thủ công nghiệp nông thôn. Trên góc độ Ngân hàng, “Hộ sản xuất” là một thuật ngữ đƣợc dùng trong hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ, NHNo&PTNT Việt Nam ban hành phụ lục số 1 kèm theo quyết định số 499A ngày 2/9/1993, quy định về HSX “Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình”. Việc đi sâu tìm hiểu về HSX nhằm xác định rõ đối tƣợng sử dụng vốn để đầu tƣ vốn có hiệu quả, hƣớng cho ngƣời vay vốn sử dụng đúng mục đích và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
Chủ hộ là đại diện của hộ trong các giao dịch dân sự và lợi ích chung của hộ. Cha mẹ hoặc thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự. Đặng Thị Hà My Lớp: NHC-K12 5 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng Tài sản chung của HSX gồm tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập nên hoặc đƣợc tặng, cho chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ.
HSX phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do ngƣời đại diện xác lập, thực hiện nhân danh HSX. Hộ chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ. Nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình. Ngày nay HSX đang trở thành một nhân tố quan trọng của sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc và là sự tồn tại tất yếu trong quá trình xây dựng một nền kinh tế đa thành phần theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa.
Tự chủ về kinh doanh, quản lý và tiêu thụ sản phẩm, do đó họ luôn tích cực để tổ chức hoạt động kinh tế một cách hợp lý và hiệu quả, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, từng bƣớc nâng cao đời sống cho bản thân, gia đình và xã hội. Đặc điểm và phân loại HSX. Đặc điểm: - HSX chủ yếu sản xuất trên quy mô nhỏ, lao động, điều kiện về đất đai sẵn có. HSX còn thiếu vốn, thiếu hiểu biết về khoa học - kỹ thuật, thiếu kiến thức về thị trƣờng nên sản xuất kinh doanh còn mang nặng tính tự cấp, tự túc.
Việc sử dụng lợi nhuận để tái đầu tƣ là rất khó khăn. Nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nƣớc về cơ chế chính sách, về vốn thì kinh tế hộ không thể chuyển sang sản xuất hàng hoá, không thể tiếp cận với cơ chế thị trƣờng - Trong HSX các thành viên thƣờng có mối quan hệ với nhau về mặt hôn nhân và huyết thống do đó có sự thống nhất giữa sở hữu và sử dụng các TLSX, giữa quản lý và lao động trực tiếp. Các thành viên trong gia đình đều tham gia vào toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất trên cả hai cƣơng vị kiểm tra giám sát và sản xuất chính. - Kinh tế hộ có khả năng tự điều chỉnh cao và rất linh hoạt.
Sự linh hoạt kinh tế hộ đƣợc thể hiện trong việc chuyển mục tiêu sản xuất kinh doanh, thích ứng với điều kiện của thị trƣờng một cách nhanh nhất. Vì mục đích chung rõ Đặng Thị Hà My Lớp: NHC-K12 6 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng ràng của cả hộ nên khi có nhu cầu tập trung sản xuất thì tiêu dùng trong kinh tế hộ có thể bị thu hẹp dễ dàng. Vì thế kinh tế hộ có khả năng cạnh tranh tƣơng đối cao mà các hình thức tổ chức khác không có bằng việc tiến hành sản xuất đa năng: vừa trồng trọt chăn nuôi, vừa làm nghề phụ, tiến hành đồng thời tạo sự đa dạng trong ngành nghề sản xuất. - Xét trong mối quan hệ với Ngân hàng, HSX có đặc điểm sau: thƣờng không mở tài khoản tài Ngân hàng, quy mô vay vốn nhỏ, tài sản thế chấp chủ yếu là đất đai, nhà ở trên đất.
Phân loại: Có nhiều cách phân loại HSX khác nhau nhƣng dựa trên các yếu tố kinh tế, căn cứ vào vào thu nhập có thể chia ra: - Hộ có thu nhập khá: Những hộ có tiền vốn, sức lao động, có kỹ thuật trong sản xuất làm dịch vụ, biết tổ chức và thuê mƣớn ngƣời làm. Hay nói cách khác đó là những hộ có môi trƣờng sản xuất và biết tổ chức sản xuất, biết thu hút lao động tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động. Vì thế hộ này có nhu cầu vay vốn lớn trong quá trình sản xuất và tạo ra nhiều lợi nhuận. - Hộ có thu nhập trung bình: Loại hộ này trong quá trình sản xuất chăn nuôi, trồng trọt có thu hoạch sản phẩm nhƣng chỉ đủ mức sinh hoạt gia đình vì trong quá trình sản xuất hộ có tiền vốn, sức lao động nhƣng bƣớc đầu chƣa tổ chức sản xuất hiệu quả, áp dụng kỹ thuật đƣợc vào sản xuất.
Vì thế, đời sống hộ còn khó khăn, chƣa đủ sức chuyển biến làm thay đổi bộ mặt nông thôn. - Loại hộ nghèo: Loại hộ này chiếm chủ yếu ở nông thôn, họ có thể thiếu sức lao động, thiếu vốn, chƣa biết tổ chức sản xuất nên hiệu quả sản xuất thu đƣợc thấp, thậm chí còn bị thất thoát vốn trong sản xuất. Hộ này thƣờng không đủ ăn, không có khả năng tích lũy để tái sản xuất mở rộng. Từ sự phân hoá trên có thể đƣa ra những chính sách kinh tế phù hợp tạo điều kiện khuyến khích các hộ phát triển ngành nghề, tăng trƣởng sản phẩm hàng hoá.
Đặng Thị Hà My Lớp: NHC-K12 7 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 1. Thực trạng kinh tế hộ hiện nay. Về đất canh tác Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, cả nƣớc có khoảng 9,4 triệu ha diện tích đất nông nghiệp, bình quân 0,57 ha/ 1 hộ. Tỷ lệ này đƣợc coi là thấp so với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là với Việt Nam – đất nƣớc còn dựa chủ yếu và nông nghiệp; tỷ lệ này tại Thái Lan bình quân 1 ha/ 1 hộ, Inđônêxia 1, 23 ha/ 1 hộ… Những năm qua do quá trình đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chuyển đổi sang làm đất công nghiệp, khu đô thị tăng nhanh.
Uớc tính mỗi năm nƣớc ta giảm khoảng 20 nghìn ha đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa. Nguyên nhân rõ nhất khiến nông nghiệp nƣớc ta phát triển chậm lại là do sự manh mún, diện tích đất canh tác thƣờng nhỏ lẻ và ngày càng giảm, bên cạnh đó là tình trạng ô nhiễm đất. Về công cụ sản xuất Những năm gần đây, quá trình cơ giới hóa đã có bƣớc phát triển, các dịch vụ cung ứng năng lực sản xuất tăng lên, tuy nhiên nhìn chung hệ thống các công cụ lao động vẫn còn thiếu và lạc hậu hơn so với khu vực, đòi hỏi phải có vốn đầu tƣ. Năng lực sử dụng chủ yếu là sức ngƣời, máy móc còn chiếm tỷ lệ nhỏ, vì kinh tế hộ còn nhỏ, không đủ vốn đầu tƣ, chủ yếu máy móc đƣợc mua thông qua sự liên kết giữa một số hộ hoặc thuê dịch vụ, dẫn tới đáp ứng không đủ nhu cầu.
Về lao động. Hạn chế lớn nhất của nguồn lao động HSX là trình độ của chủ hộ và các thành viên trong hộ còn thấp chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm, đây là nguồn nhân lực tự có, trừ một số ít (15 – 20%) số chủ hộ có kiến thức và chủ động ứng dụng, học hỏi và làm chủ các tiến bộ khoa học kỹ thuật, thì còn lại đại bộ phận ít quan tâm, nếu có cũng chỉ là tự phát. Do đó sản xuất đạt hiệu quả không cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bên cạnh đó việc lao động có xu hƣớng Đặng Thị Hà My Lớp: NHC-K12 8 Khóa luận tốt nghiệp Học viện Ngân hàng di dời lên đô thị kiếm việc làm cũng là vấn đề nan giải.
Sản xuất nông nghiệp mang tính chất thời vụ, một lƣợng lớn lao động thƣờng không có việc làm dẫn tới nhàn rỗi nảy sinh các tệ nạn là tác động tiêu cực kéo theo. Việc làm vẫn là vấn đề nan giải chung của toàn xã hội, với khu vực nông thôn thì càng bức xúc trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn nƣớc ta. Về vốn, ứng dụng tiến bộ mới vào sản xuất. Nền sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, ngƣời nông dân đã có thể mạnh dạn đầu tƣ cho sản xuất.
Nhƣng tình trạng thiếu vốn là vấn đề ở hầu hết các HSX hiện nay. Số hộ nghèo vẫn chiếm tỷ lệ cao, ngay cả hộ khá giả cũng trong tình trạng thiếu vốn. Vấn đề tiếp cận và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất chƣa phổ biến, các kỹ thuật canh tác và nuôi trồng chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và tập quán canh tác.