Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Canh tác ruộng bậc thang là hình thức canh tác lúa nước đặc thù trên địa hình đồi núi dốc tại vùng miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng. Diện tích đất ruộng bậc thang toàn tỉnh Yên Bái là 5.787,78 ha, chiếm 0,85% tổng diện tích đất tự nhiên và chiếm 5,36% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh (Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái, 2019). Trong đó, diện tích đất ruộng bậc thang chỉ canh tác một vụ lúa Mùa (từ tháng 5 đến tháng 10) chiếm tỷ lệ lớn, tập trung chủ yếu tại các huyện vùng cao khó khăn như Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn và Văn Yên. Sau khi thu hoạch lúa Mùa, đất bị bỏ hóa kéo dài khoảng 7 tháng (từ tháng 11 năm trước đến cuối tháng 5 năm sau), dẫn đến hiệu quả sử dụng đất thấp.

Việc bố trí thêm cây trồng vào vụ Đông gặp nhiều khó khăn do nền nhiệt độ thấp (trung bình 15 - 18°C, nhiệt độ tối thấp 11,7 - 14,6°C) và lượng mưa hạn chế (150 - 200 mm). Ngược lại, vụ Xuân (từ tháng 2 đến tháng 5) có nhiệt độ trung bình 20 - 25°C, nhiệt độ tối thấp 15,7 - 21,0°C, lượng mưa 450 - 550 mm với quỹ thời gian khoảng 125 ngày, cho phép gieo trồng các cây trồng cạn ngắn ngày như ngô hoặc cây họ đậu.

Mặc dù cây ngô giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây lương thực và nguồn thức ăn chăn nuôi của địa phương, năng suất ngô bình quân toàn tỉnh năm 2018 chỉ đạt 34,19 tạ/ha trên tổng diện tích 28.522 ha. Tại các vùng cao, việc đưa ngô Xuân vào ruộng bậc thang một vụ còn mang tính tự phát, chưa xác định được bộ giống thích hợp, thiếu khung thời vụ chuẩn xác và chưa có quy trình thâm canh (phân bón, vật liệu che phủ, mật độ gieo trồng ngô sinh khối) đồng bộ. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống kỹ thuật này.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mục tiêu chung: Nghiên cứu xác định được bộ giống ngô và biện pháp canh tác hợp lý nhằm phát triển sản xuất ngô Xuân hiệu quả trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá được thực trạng, bao gồm cả các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong sản xuất ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái.
    • Xác định được giống ngô có năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái và tập quán canh tác trên đất ruộng bậc thang của tỉnh Yên Bái.
    • Xác định được kỹ thuật canh tác ngô (thời vụ gieo trồng, phương pháp gieo trồng, phân bón, che phủ, mật độ) phù hợp với điều kiện vụ Xuân trên ruộng bậc thang của vùng.
    • Xây dựng được mô hình trình diễn ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các giống ngô lai lấy hạt và ngô sinh khối; các biện pháp kỹ thuật canh tác (thời vụ, phương pháp gieo, liều lượng phân lân, phân đạm, mức độ che phủ đất bằng vật liệu hữu cơ và nilon, mật độ trồng).
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Yên Bái, tập trung khảo sát và thực nghiệm tại 3 huyện đại diện: Mù Cang Chải (vùng cao), Văn Chấn và Văn Yên (vùng thấp và trung du).
  • Phạm vi thời gian: Các thí nghiệm và điều tra đồng ruộng được triển khai trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước

  • Nghiên cứu về ruộng bậc thang và chống xói mòn: Canh tác ruộng bậc thang xuất hiện phổ biến tại các vùng đồi núi như Banaue (Philippines), Yuanyang (Trung Quốc), Bali (Indonesia), Chiang Mai (Thái Lan). Nghiên cứu của Zheng Baojuan (2014) cho thấy việc tạo ruộng bậc thang giúp giảm độ dốc xuống 2 - 5°, hạn chế xói mòn từ 1 - 3 lần. Fullenii (2014) ghi nhận đất ruộng bậc thang của người Hà Nhì (Vân Nam, Trung Quốc) có độ phì thấp (pH 5 - 6, CEC 4 - 7 cmol/kg) nhưng thâm canh tốt vẫn đạt năng suất lúa 4 - 6 tấn/ha. Tại Đài Loan, Tsai Wang (1986) chứng minh việc luân canh lúa với ngô, lạc, cao lương giúp tăng thu nhập thuần từ 26% đến 40% so với độc canh lúa.
  • Nghiên cứu ruộng bậc thang tại miền núi phía Bắc Việt Nam: Toàn vùng có 187 nghìn ha đất ruộng bậc thang 1 vụ (chiếm 36% diện tích đất ruộng toàn vùng), phân bố ở Đông Bắc (148,6 nghìn ha) và Tây Bắc (38,5 nghìn ha) (Lê Quốc Doanh và cs, 2008). Thái Phiên và cs (1998), Lê Văn Tiềm (2005) chỉ ra rằng canh tác ruộng bậc thang giúp kiểm soát mất đất (dưới 1 tấn/ha/năm), giữ ẩm và tạo tầng đế cày hạn chế rửa trôi dinh dưỡng. Nghiên cứu của Lê Quốc Doanh và Lưu Ngọc Quyến (2008) tại Mù Cang Chải đã xác định các công thức luân canh đậu tương Xuân - lúa Mùa và lạc Xuân - lúa Mùa làm tăng lãi thuần từ 88% đến 130% so với độc canh lúa Mùa.
  • Yêu cầu sinh thái và các biện pháp kỹ thuật cho cây ngô:
    • Nhiệt độ và nước: Nhiệt độ thích hợp cho ngô nảy mầm là 18,3°C; nhiệt độ dưới 12,8°C làm giảm năng suất; ngưỡng chịu lạnh tối thiểu từ 9 - 10°C, dưới -1,6°C ngô bị tổn thương và dưới -4,4°C ngô bị chết (Đinh Thế Lộc và cs, 1997). Nhu cầu nước của cây ngô là 250 - 400 lít/kg chất khô, mẫn cảm nhất ở giai đoạn trỗ cờ - kết hạt (David et al., 2002; Trần Hồng Uy, 2001).
    • Bộ giống ngô: Các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Ngô, Đặng Ngọc Hạ và cs (2019, 2020), Bùi Mạnh Cường và cs (2017), Lê Quý Kha và cs (2005, 2019), Ngô Thị Minh Tâm và cs (2019) đã phát triển nhiều giống lai chịu hạn, chịu rét và ngô sinh khối như LVN885, LVN17, VN636, VN172, ĐH17-5.
    • Phân bón và mật độ: Nghiên cứu của Thomas Dieroff et al. (2001), Bùi Huy Hiền (2002), Nguyễn Văn Bộ (2007), Hà Thị Thanh Bình và cs (2011), Lê Thị Kiều Oanh và cs (2014), Kiều Xuân Đàm và cs (2020) khẳng định vai trò quyết định của phân đạm (N) và phân lân ($P_2O_5$) đến sinh khối và năng suất hạt, đồng thời nhấn mạnh việc cân đối tỷ lệ N:P:K theo đặc thù từng loại đất.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây tại miền núi phía Bắc chủ yếu tập trung vào cây đậu tương, lạc hoặc lúa chịu hạn trên ruộng bậc thang. Đối với cây ngô, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện từ việc mô hình hóa thời vụ sinh thái nhằm tránh rét đầu vụ và tránh lũ tiểu mãn cuối vụ, đến tuyển chọn giống thích ứng và thiết lập quy trình kỹ thuật phân bón kết hợp che phủ giữ ẩm trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết thích ứng sinh thái học cây trồng: Cân đối giữa nhu cầu nhiệt tích lũy, chế độ ẩm, độ dài chiếu sáng của cây ngô với diễn biến thời tiết vụ Xuân tại tiểu vùng núi cao và vùng thấp.
  • Mô hình hóa năng suất tiềm năng (PYE - Potential Yield Estimation): Sử dụng phương pháp xác định "Cửa sổ gieo trồng thuận lợi" dựa trên 3 ràng buộc xác suất:
    1. $P_1$: Xác suất tránh chết rét và khô hạn đầu vụ ($T_{min} > 10^\circ C$).
    2. $P_2$: Xác suất thu hoạch trước ngày 30/6 để giải phóng đất cho vụ lúa Mùa chính vụ.
    3. $P_3$: Xác suất đạt trên 70% năng suất tối đa tiềm năng ($P_{max}$).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp điều tra: Điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên có phân tầng kết hợp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) tại các huyện Văn Chấn, Văn Yên và Mù Cang Chải nhằm thu thập số liệu về hiện trạng quỹ đất, cơ cấu mùa vụ, tập quán sử dụng giống và phân bón.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng:
    • Thí nghiệm so sánh giống: Bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD), 3 lần nhắc lại.
    • Thí nghiệm đa nhân tố (thời vụ $\times$ phương pháp gieo; mức phân lân $\times$ mức che phủ; liều lượng đạm $\times$ mật độ trồng): Bố trí theo kiểu ô lớn - ô nhỏ (Split-plot) hoặc ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại.
  • Phương pháp phân tích hóa sinh và đất:
    • Phân tích độ phì nhiêu của đất (pH, OC, N tổng số, $P_2O_5$ và $K_2O$ dễ tiêu, CEC, thành phần cấp hạt) theo tiêu chuẩn TCVN.
    • Đánh giá chất lượng ngô sinh khối: Xác định hàm lượng vật chất khô (VCK), xơ không tan trong môi trường trung tính (NDF), protein thô.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê sinh học, phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh trung bình nghiệm thức theo chuẩn thống kê nông học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện các nghiên cứu về đất ruộng bậc thang trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt nông hóa thổ nhưỡng, đất ruộng bậc thang Yên Bái có phản ứng chua đến rất chua, dung tích hấp thu thấp và hàm lượng dinh dưỡng ở mức nghèo đến trung bình.

Chỉ tiêu phân tích Tầng 1 (Tầng mặt) Tầng 2 Tầng 3 Tầng 4
Dung trọng ($g/cm^3$) 1,23 - 1,28 1,28 - 1,37 1,35 - 1,43 1,36 - 1,45
Độ xốp (%) 50,8 - 52,9 48,1 - 49,6 47,3 - 48,9 46,7 - 48,0
$pH_{H_2O}$ 4,7 - 5,4 4,8 - 5,3 4,8 - 5,4 4,9 - 5,4
$pH_{KCl}$ 3,8 - 4,5 3,8 - 4,4 3,9 - 4,4 3,9 - 4,5
OC (%) 1,16 - 1,57 0,66 - 0,92 0,34 - 0,68 0,27 - 0,43
N tổng số (%) 0,11 - 0,14 0,06 - 0,09 0,04 - 0,06 0,03 - 0,04
$P_2O_5$ tổng số (%) 0,06 - 0,09 0,03 - 0,05 0,02 - 0,04 0,01 - 0,03
$P_2O_5$ dễ tiêu ($mg/100g$) 3,02 - 9,78 1,23 - 6,34 0,89 - 4,02 0,73 - 2,57
$K_2O$ dễ tiêu ($mg/100g$) 8,51 - 13,14 5,26 - 8,59 3,46 - 6,50 2,16 - 5,02
CEC ($meq/100g$ đất) 8,0 - 10,4 7,9 - 10,1 7,6 - 9,7 7,7 - 9,4

Nguồn: Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (2011), trích trong Luận án.

Tổng quan cũng tổng kết các nghiên cứu về vai trò dinh dưỡng N, P, K, khả năng tích lũy nhiệt độ, đáp ứng ánh sáng ngày ngắn và ngưỡng chịu hạn của cây ngô, làm cơ sở lý luận cho các thí nghiệm thực địa.

Chương 2. Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả hệ thống vật liệu và thiết kế nghiên cứu:

  • Vật liệu: Các giống ngô lai lấy hạt triển vọng và ngô sinh khối; phân bón thương phẩm gồm đạm urê (46% N), supe lân ($16% P_2O_5$), kali clorua ($60% K_2O$); vật liệu che phủ gồm phụ phẩm nông nghiệp hữu cơ (rơm rạ, thân lá cây bổi) và màng phủ nilon nông nghiệp.
  • Nội dung triển khai:
    1. Khảo sát thực trạng canh tác ruộng bậc thang 1 vụ tại Yên Bái.
    2. Tuyển chọn giống ngô lai phù hợp cho vụ Xuân năm 2017.
    3. Ứng dụng mô hình hóa xác định khung thời vụ gieo trồng tối ưu.
    4. Thí nghiệm thời vụ gieo kết hợp phương pháp gieo hạt trong vụ Xuân 2017 và 2018.
    5. Thí nghiệm xác định lượng phân lân ($P_2O_5$) và mức độ vật liệu che phủ (CP1 = 3 tấn/ha; CP2 = 5 tấn/ha; CP3 = 7 tấn/ha vật liệu hữu cơ; CP4 = phủ nilon).
    6. Thí nghiệm mật độ gieo trồng và lượng phân đạm bón cho ngô trồng dày lấy sinh khối trong vụ Xuân 2019.
    7. Xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm và đánh giá hạch toán kinh tế năm 2019.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm chi tiết:

  • Thực trạng sản xuất: Xác định nguyên nhân ruộng bậc thang bỏ hóa vụ Xuân gồm thiếu nước tưới (40%), nhiệt độ đầu vụ thấp (25%), tập quán thả rông gia súc (20%) và thiếu kỹ thuật canh tác (10%).
  • Lựa chọn giống ngô: Thí nghiệm so sánh giống trong vụ Xuân 2017 tại các điểm sinh thái đã xác định được hai giống ngô lai LVN17 và NK6101 có thời gian sinh trưởng phù hợp (115 - 120 ngày), tỷ lệ mọc mầm cao, khả năng chống chịu sâu đục thân, bệnh đốm lá, bệnh khô vằn tốt và cho năng suất thực thu cao nhất.
  • Khung thời vụ gieo trồng: Kết quả mô hình hóa PYE kết hợp thực nghiệm đồng ruộng 2017 - 2018 chỉ ra:
    • Gieo vào khung thời gian từ 10/2 đến 20/2 (công thức TV3 và TV4) là tối ưu nhất.
    • Cây ngô rút ngắn thời gian từ gieo đến trỗ cờ xuống còn 66 - 68 ngày, từ gieo đến tung phấn 69 - 70 ngày, và tổng thời gian sinh trưởng đạt 114 - 118 ngày.
    • Toàn bộ diện tích ngô được thu hoạch trước ngày 30/6, không làm ảnh hưởng đến thời vụ làm đất và cấy lúa Mùa.
  • Hiệu quả phân lân và che phủ hữu cơ:
    • Mức bón cân đối 150 kg N + 120 kg $P_2O_5$ + 90 kg $K_2O$/ha giúp ngô phát triển bộ rễ mạnh, tăng khả năng chống chịu điều kiện rét ẩm đầu vụ.
    • Biện pháp che phủ 5 tấn vật liệu hữu cơ/ha (rơm rạ, xác thực vật) giữ ẩm đất tốt, hạn chế cỏ dại, kiểm soát bốc hơi nước và cho năng suất tương đương với biện pháp phủ màng nilon nhưng giảm chi phí đầu tư và không để lại rác thải nhựa trên đồng ruộng.
  • Kỹ thuật sản xuất ngô sinh khối: Khi canh tác ngô dày làm thức ăn chăn nuôi tại Văn Chấn và Văn Yên trong vụ Xuân 2019, nghiệm thức mật độ 7,7 vạn cây/ha kết hợp bón 180 kg N/ha cho năng suất chất xanh và hàm lượng chất khô (VCK), xơ trung tính (NDF) tối ưu nhất phục vụ ủ chua hoặc cho gia súc ăn tươi.
  • Mô hình trình diễn và hiệu quả kinh tế: Mô hình canh tác ngô Xuân LVN17 năm 2019 áp dụng đồng bộ thời vụ 10 - 20/2, bón phân cân đối và che phủ rơm rạ đạt năng suất hạt khô trung bình cao, mang lại hiệu quả kinh tế và thu nhập thuần vượt trội so với tập quán bỏ hóa đất vụ Xuân của người dân địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học

  1. Đã xác định được nguyên nhân cốt lõi hạn chế sản xuất ngô vụ Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tỉnh Yên Bái là sự kết hợp của nhiệt độ thấp đầu vụ, khô hạn cục bộ và tập quán thả rông gia súc của đồng bào vùng cao.
  2. Ứng dụng thành công phương pháp tiếp cận mô hình hóa kết hợp thực nghiệm nông học để thiết lập "Cửa sổ gieo trồng thuận lợi", giải quyết hài hòa xung đột mùa vụ giữa ngô Xuân và lúa Mùa trên ruộng bậc thang.
  3. Xác lập cơ sở khoa học về việc kết hợp phân lân liều lượng cao ($120\text{ kg } P_2O_5/\text{ha}$) cùng vật liệu che phủ hữu cơ (5 tấn/ha) giúp ngô vượt qua giai đoạn rét hại, hạn chế rửa trôi dinh dưỡng và tăng hiệu quả sử dụng nước trên đất dốc ruộng bậc thang.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Về cơ cấu giống: Khuyến cáo đưa các giống ngô lai có thời gian sinh trưởng trung bình sớm, chịu hạn, chịu rét như LVN17, NK6101 vào cơ cấu sản xuất vụ Xuân.
  • Quy trình kỹ thuật hoàn chỉnh cho ngô lấy hạt:
    • Thời vụ gieo trồng: Tập trung từ ngày 10/2 đến ngày 20/2 hàng năm.
    • Mức bón phân và kỹ thuật che phủ: Bón $150\text{ kg N} + 120\text{ kg } P_2O_5 + 90\text{ kg } K_2O/\text{ha}$ trên nền che phủ 5 tấn phụ phẩm hữu cơ/ha.
  • Quy trình kỹ thuật cho ngô sinh khối:
    • Mật độ gieo trồng: 7,7 vạn cây/ha.
    • Mức bón đạm: $180\text{ kg N/ha}$.
  • Giải pháp chuyển đổi: Chuyển đổi thành công hệ thống canh tác từ 1 vụ lúa Mùa (bỏ hóa 7 tháng) sang hệ thống ngô Xuân - lúa Mùa, tận dụng quỹ đất hơn 5.000 ha ruộng bậc thang 1 vụ, giải quyết việc làm cho lao động nhàn rỗi và cung cấp nguồn thức ăn phục vụ phát triển chăn nuôi đại gia súc tại chỗ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các thí nghiệm thực địa mới chỉ tập trung trên các loại đất ruộng bậc thang đại diện tại 3 huyện (Văn Chấn, Văn Yên, Mù Cang Chải), chưa bao phủ toàn bộ các tiểu vùng vi khí hậu có độ cao trên 1.000 m thuộc huyện Trạm Tấu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu mở rộng quy trình kỹ thuật cho các vùng sinh thái đặc thù có độ dốc lớn hơn và điều kiện thiếu nước nghiêm trọng hơn.
    • Nghiên cứu sâu hơn về các dòng chế phẩm sinh học xử lý nhanh tàn dư hữu cơ sau vụ ngô Xuân để đẩy nhanh tiến độ làm đất cho vụ cấy lúa Mùa.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Tài liệu cung cấp dẫn liệu thực nghiệm về nông hóa thổ nhưỡng đất ruộng bậc thang, sinh lý sinh thái cây ngô trong điều kiện rét hạn, và phương pháp luận mô hình hóa khung thời vụ PYE.
  • Đối với cơ quan quản lý và khuyến nông địa phương: Cung cấp cơ sở khoa học để Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Yên Bái cũng như các tỉnh miền núi phía Bắc xây dựng đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bố trí mùa vụ và ban hành hướng dẫn kỹ thuật thâm canh ngô Xuân trên ruộng bậc thang một vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái lại bỏ hóa vụ Xuân kéo dài?

Nguyên nhân bỏ hóa đất từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau bao gồm: 40% do thiếu nước tưới trong vụ khô; 25% do nhiệt độ thấp, rét đậm đầu vụ; 20% do tập quán thả rông gia súc sau thu hoạch lúa Mùa; 10% do người dân chưa nắm được kỹ thuật và chưa lựa chọn được loại cây trồng thích hợp.

2. Thời vụ gieo trồng ngô Xuân tối ưu được luận án xác định là thời gian nào?

Thời vụ gieo trồng thích hợp nhất là từ ngày 10/2 đến ngày 20/2. Khung thời vụ này giúp cây ngô tránh được các đợt rét hại nặng đầu vụ, rút ngắn thời gian sinh trưởng xuống 114 - 118 ngày và đảm bảo thu hoạch trước ngày 30/6 để kịp làm đất cấy vụ lúa Mùa.

3. Giống ngô nào được khuyến cáo sử dụng cho vụ Xuân trên đất ruộng bậc thang Yên Bái?

Luận án xác định hai giống ngô lai LVN17 và NK6101 là phù hợp nhất nhờ khả năng sinh trưởng khỏe trong điều kiện nhiệt độ thấp đầu vụ Xuân, chống chịu sâu đục thân và bệnh đốm lá tốt, độ kín lá bi cao và cho năng suất thực thu cao, ổn định.

4. Quy trình phân bón và che phủ đất cho ngô lấy hạt được đề xuất cụ thể ra sao?

Quy trình khuyến cáo gồm liều lượng phân bón 150 kg N + 120 kg $P_2O_5$ + 90 kg $K_2O$/ha kết hợp với biện pháp che phủ 5 tấn vật liệu hữu cơ/ha (rơm rạ, xác thực vật). Biện pháp này vừa giữ ẩm, chống rét cho cây con, vừa tiết kiệm chi phí so với màng phủ nilon.

5. Đối với định hướng ngô sinh khối làm thức ăn chăn nuôi, mật độ và lượng đạm bón như thế nào là phù hợp?

Để thu sinh khối thân lá làm thức ăn chăn nuôi gia súc, ngô được trồng với mật độ dày 7,7 vạn cây/ha kết hợp bón 180 kg N/ha, giúp đạt năng suất chất xanh và chất lượng xơ, protein cao nhất.


Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Văn Chinh đã giải quyết vấn đề kỹ thuật trong việc tăng vụ ngô Xuân trên đất ruộng bậc thang một vụ tại tỉnh Yên Bái. Bằng việc ứng dụng mô hình hóa thời vụ kết hợp thực nghiệm đồng ruộng, tác giả đã tuyển chọn được giống ngô LVN17, xác định khung thời vụ gieo từ 10/2 đến 20/2, và hoàn thiện gói kỹ thuật phân bón kết hợp che phủ hữu cơ cho ngô lấy hạt cũng như ngô sinh khối. Kết quả nghiên cứu là căn cứ thực tiễn để nâng cao hệ số sử dụng đất, bảo đảm an ninh lương thực và phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững tại các huyện vùng cao tỉnh Yên Bái.