Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XU HƢỚNG HÌNH SỰ HOÁ VIỆC DÂN SỰ, KINH TẾ Ở VIỆT NAM 1. Các quan niệm về hình sự hoá việc dân sự, kinh tế Người ta có thể hiểu khác nhau về khái niệm hình sự hoá. Hình sự hoá có thể là một quy trình lập pháp thường xuyên và bình thường nhằm xác định loại hành vi nguy hiểm cho trật tự xã hội được xem là tội và cần đấu tranh nhằm trấn áp, phòng ngừa hoặc trừng trị. Theo quan niệm ấy của khoa học luật hình sự, hình sự hoá là quá trình nhận biết những hành vi nguy hại cho trật tự xã hội, từng bước xác định dấu hiệu dễ coi chúng là vi phạm pháp luật hình sự, được coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự.
Hình sự hoá là những vấn đề thuộc thẩm quyền của nhà lập pháp. Bởi vì việc đánh giá một hành vi nào đó là nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, đáng bị trừng phạt phải quy định trong luật hình sự nói chung, là vấn đề thuộc thẩm quyền của nhà lập pháp. Tương tự như thế, việc xác định những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nào đó được quy định trong luật hình sự cũng thuộc thẩm quyền của nhà lập pháp. Chẳng hạn xuất phát từ thực tiễn đấu tranh với các loại tội phạm liên quan đến hành vi rửa tiền- một vấn đề được cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm trong khi các điều 250, 251 Bộ luật hình sự năm 1999 tuy có đề cập đến những hành vi rửa tiền khác nhau nhưng lại chưa bao quát được hết các hành vi rửa tiền như: sử dụng tiền, tài sản do phạm tội mà có vào như dịch chuyển tài sản biết rõ do phạm tội mà có từ nơi này sang nơi khác nhằm mục đích che dấu hoặc ngụy trang nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản; che dấu ngụy trang nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản bằng các biện pháp như ngụy trang các thông tin về chủ sở hữu, sử dụng tài sản mà không kèm theo việc chiếm hữu tài sản.
Trong lĩnh vực công nghệ thông tin trong điều kiện bùng nổ khoa học 9 z công nghệ nói chung và tin học nói riêng, nhiều loại hành vi vi phạm liên quan đến máy tính và mạng máy tính mới phát sinh chưa được các điều 224, 225 và 226 BLHS bao quát hết như: sử dụng công nghệ thông tin để rút tiền của người khác từ máy rút tiền tự động, lừa đảo qua mạng; truy cập trái phép, đón chặn thông tin trái phép, sử dụng trái phép thiết bị và các hành vi khác xâm hại đến các thiết bị, số liệu và dịch vụ thông tin, truyền thông… Từ những nhu cầu trên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 19/6/2009 đã tiếp tục hoàn thiện các quy định tại điều 251với việc đổi tên điều luật từ tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có sang tội rửa tiền và xác định các nhóm hành vi gồm: + Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có nhằm mục đích che dấu nguồn gốc bát hợp pháp của tiền, tài sản đó; + Sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác; + Che dấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó. Về xử lý ngoài 3 trường hợp tăng nặng hình phạt như quy định hiện hành (có tổ chức; lợi dụng chức vụ quyền hạn; phạm tội nhiều lần) đã bổ sung thêm 6 tình tiết tăng nặng khác (dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; Tiền,tài sản phạm tội có giá trị lớn; thu lợi bất chính lớn; gây hậu quả nghiêm trọng; tái phạm nguy hiểm) Hoàn thiện các quy định tại các điều 224, 225, 226 và bổ sung thêm hai tội mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Đó là tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a); tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b) 10 z Trên một phương diện khác, ngược với xu hướng hình sự hóa là xu hướng phi hình sự hóa, đó là việc loại bỏ khỏi danh mục các hành vi nguy hiểm cho xã hội nào đó mà trước đây coi là tội phạm, nhưng nay không bị coi là tội phạm nữa hoặc giảm thiểu các biện pháp và mức độ nghiêm khắc của hình phạt đối với những loại hành vi khác. Chẳng hạn về mức định lượng tối thiểu về giá trị tài sản hoặc giá trị thiệt hại để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội chiếm đoạt tài sản và một số tội phạm khác có liên quan đến tài sản trong Bộ luật hình sự năm 1999 đã quá lạc hậu so với tình hình phát triển kinh tế xã hội cũng như biến động giá cần phải có sự điều chỉnh thích hợp để đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 19/6/2009 đã sửa đổi mức định lượng tối thiểu dể truy cứu trách nhiệm hình sự tại khoản 1 của một số điều như: + Sửa đổi từ 500.000 đồng tại các khoản 1 các điều 137, 138,139,143,278, 280, 283, 289, 290 và 291; + Sửa đổi từ 1000.000 đồng tại khoản 1 và bỏ từ “ trên” tại điểm d khoản 2 điều 140; + Sửa đổi từ 5.000 đồng tại khoản 1 điều 141[24] Hình sự hoá và phi hình sự hóa theo quan niệm của khoa học pháp lý là hai xu hướng tưởng chừng như mâu thuẫn nhau đó lại là sự thống nhất chặt chẽ, biện chứng trong một quá trình thống nhất, một tiến trình tích cực, hợp lý.
Đúng như TSKH.PGS Lê Văn Cảm kết luận: “ Hình sự hóa, phi hình sự hóa với tư cách là phạm trù pháp lý hình sự, đồng thời là những quá trình nhận thức lý luận có tính lô gích khác nhau và trái ngược nhau, mặt khác cũng chính là kết quả của những quá trình tương ứng tuy có điểm giống nhau và khác nhau nhưng luôn có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ và tác động tương hỗ nhau cần phải được phân tích và lý giải trên hai bình diện- lập pháp và áp dụng pháp luật…Hình sự hóa- phi hình sự hóa trong lĩnh vực lập pháp (hiểu 11 z theo đúng nghĩa hẹp của hai phạm trù này) là hai biện pháp thực hiện chính sách hình sự, được thể hiện bằng hoạt động sáng tạo pháp luật hình sự của nhà nước (như : khi pháp điển hóa, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật hình sự) nhằm điều chỉnh về mặt pháp lý hình sự các quan hệ xã hội đang tồn tại phục vụ cho cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn phát triển tương ứng của đất nước nên chúng thuộc phạm vi nhánh quyền lực lập pháp, là thẩm quyền đặc biệt chỉ của nhà làm luật và chỉ do cơ quan lập pháp thực hiện” [4]. Về bản chất, đây là hoạt động thay đổi để phù hợp với nội dung chính trị - xã hội của pháp luật hình sự. Với lô gích đó, vấn đề hình sự hoá, phi hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế có thể hiểu một cách khái quát đó là việc nhà lập pháp chọn khuynh hướng đưa vào hay loại trừ khỏi phạm trù hình sự, những quan hệ pháp luật kinh tế hay dân sự nào đó hoặc quy định tăng nặng trách nhiệm hình sự, hình phạt hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với hành vi nào đó xâm hại là đến các quan hệ dân sự, kinh tế nhất định đã được luật hình sự bảo vệ. Như tác giả Nguyễn Đình Cung nhận xét: Hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế, đó là Sự chuyển hoá các quan hệ pháp luật dân sự, kinh tế thành các quan hệ pháp luật hình sự thông qua việc xây dựng các qui phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền [6].
Trong cuộc sống xã hội, các quan hệ hình thành, phát triển, thay đổi cả về lượng và chất; mức độ nguy hiểm của một số hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, dân sự thay đổi theo hướng nặng hơn hoặc nhẹ hơn. Sau khi nghiên cứu, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tính phổ biến, mức độ trái với các qui phạm đạo đức, khả năng chứng minh về mặt tố tụng… nếu xét thấy cần thiết phải sử dụng biện pháp hình sự hoặc phi hình sự để đấu tranh phòng ngừa các vi phạm, cơ quan lập pháp xác định hành vi ấy như một loại tội phạm mới hoặc cần loại trừ khỏi tội phạm hiện hành trong pháp luật hình sự của quốc gia. 12 z Mặt khác, trong thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt Nam, hiện tượng áp dụng không đúng các quy định của pháp luật của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đại điện cho nhà nước để giải quyết sự xung đột của các quan hệ xã hội và các vi phạm pháp luật thường được báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng hoặc một số diễn đàn gọi là “ hình sự hóa” hoặc “phi hình sự hóa”. Theo đó “ hình sự hóa” là việc áp dụng quy phạm pháp luật hình sự để giải quyết sự xung đột của các quan hệ xã hội mà lẽ ra chỉ cần áp dụng các quy phạm pháp luật phi hình sự (như: pháp luật dân sự, pháp luật hành chính, pháp luật kinh tế…) thì mới đúng và ngược lại “ phi hình sự hóa” thực chất là việc áp dụng các quy phạm pháp luật phi hình sự để giải quyết sự xung đột pháp luật của các quan hệ xã hội đã đến mức cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự.
Về bản chất, thì hai phạm trù “ hình sự hóa’- “ phi hình sự hóa” trong lĩnh vực áp dụng pháp luật với tư cách là kết quả tiêu cực do hoạt động thực tiễn của cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền rõ ràng khác xa so với nội hàm của hai phạm trù tương ứng trong lĩnh vực lập pháp [16].