Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, số lượng trẻ em đường phố tại Việt Nam từng có xu hướng gia tăng nhanh chóng, từ 13.047 em vào năm 1997 lên 21.000 em vào năm 2001. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong giai đoạn 2003 - 2004 đã ghi nhận khoảng 8.150 trẻ em đường phố mưu sinh trên các nẻo đường. Trẻ em đường phố là nhóm đối tượng chịu nhiều tổn thương sâu sắc do thiếu vắng sự chăm sóc, giáo dục từ gia đình và chịu nhiều áp lực sinh kế khắc nghiệt. Tình trạng này khiến các em dễ phát sinh những hành vi lệch chuẩn xã hội như đánh nhau, trộm cắp, nói dối hay sa vào các băng nhóm tiêu cực.

Thực tế công tác quản lý tại các trung tâm bảo trợ và giáo dục thanh thiếu niên trước đây chủ yếu dựa vào các biện pháp kỷ luật hành chính và hình phạt răn đe mang tính áp đặt. Cách tiếp cận này chỉ đem lại sự phục tùng tức thời, mang tính đối phó chứ chưa giải quyết được căn nguyên tâm lý bên trong của trẻ. Xuất phát từ thực tiễn đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục học của tác giả Phạm Tấn Sỹ, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Đỗ Mạnh Cường tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, đã tập trung nghiên cứu đề tài: "Đề xuất một số biện pháp khắc phục một số hành vi lệch chuẩn nơi trẻ em đường phố tại Trung tâm Giáo dục Dạy nghề Thanh thiếu niên Thành phố Hồ Chí Minh".

Mục tiêu cốt lõi của đề tài là khảo sát thực trạng, nhận diện các dạng hành vi sai lệch và xây dựng hệ thống biện pháp can thiệp mang tính nhân văn dựa trên học thuyết tâm lý nhu cầu. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực nghiệm trực tiếp trên 67 thanh thiếu niên nam trong độ tuổi từ 8 đến 18 tuổi tại Trung tâm Giáo dục Dạy nghề Thanh thiếu niên Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ số 14 đường Nguyễn Văn Bảo, quận Gò Vấp) trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2015 đến tháng 2 năm 2016. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn lớn khi giúp giảm thiểu rõ rệt tỷ lệ vi phạm kỷ luật của 100% đối tượng tham gia, đồng thời thiết lập mối quan hệ đồng hành tin cậy giữa trẻ em và đội ngũ giáo dục viên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng nền tảng dựa trên Thuyết thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow kết hợp cùng Liệu pháp tâm lý nhân văn và Thuyết học tập xã hội của Albert Bandura. Mô hình nghiên cứu vận hành theo cơ chế tương tác: Nhu cầu tạo ra động cơ thúc đẩy hành vi nhằm đạt được mục đích cụ thể. Khi các nhu cầu căn bản không được thỏa mãn một cách lành mạnh, cá nhân sẽ phát sinh các hành vi lệch chuẩn để tự bù đắp hoặc phòng vệ.

Khung lý luận của đề tài làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản sau:

  • Hành vi: Chuỗi phản ứng, cách ứng xử bộc lộ ra bên ngoài thông qua lời nói và hành động cụ thể nhằm thích ứng với môi trường sống và thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
  • Hành vi lệch chuẩn: Những hành vi không phù hợp hoặc đối lập với chuẩn mực đạo đức và pháp luật được xã hội thừa nhận. Đề tài vận dụng 15 tiêu chí chẩn đoán theo bảng phân loại bệnh học DSM-IV của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ để nhận diện các biểu hiện sai lệch về hung hãn, phá hoại tài sản, gian lận và vi phạm quy tắc.
  • Trẻ em đường phố: Những thanh thiếu niên dưới 18 tuổi rời bỏ gia đình, dành phần lớn thời gian sống và lao động tự kiếm sống trên đường phố, thiếu sự bảo bọc an toàn từ người lớn.
  • Liệu pháp nhân văn: Phương pháp tiếp cận tập trung nâng cao khả năng tự nhận biết, sự chấp nhận bản thân, cải thiện tương quan giao tiếp xã hội và phát triển tính tự lực của trẻ.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và khoa học, đề tài sử dụng dữ liệu sơ cấp thu thập từ 67 thanh thiếu niên nam cùng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và hơn 10 tình nguyện viên Dòng Salêdiêng Don Bosco đang trực tiếp đồng hành tại trung tâm.

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 67 thanh thiếu niên nam trong độ tuổi từ 8 đến 18 tuổi đang sinh hoạt tập trung tại trung tâm. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp khảo sát toàn diện đối tượng tại 7 cụm nhà lưu trú để phản ánh đầy đủ đặc điểm hành vi của nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Đề tài kết hợp phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi chuẩn hóa, phương pháp quan sát tham dự định kỳ vào các buổi chiều thứ Bảy hàng tuần và phỏng vấn sâu cá nhân. Các kỹ thuật thống kê toán học như tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình và phân tích tương quan được lựa chọn vì giúp lượng hóa chính xác mức độ biến đổi hành vi của trẻ trước và sau khi can thiệp thực nghiệm.
  • Timeline nghiên cứu: Quá trình điều tra thực trạng và triển khai thực nghiệm diễn ra liên tục trong 7 tháng, kéo dài từ ngày 8 tháng 8 năm 2015 đến ngày 27 tháng 2 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng trên 67 trẻ em nam đường phố tại trung tâm đã đem lại các phát hiện thực chứng nổi bật:

Thứ nhất, trình độ văn hóa của nhóm trẻ rất thấp. Có tới 64,18% trẻ có học vấn dưới bậc tiểu học. Trong đó, trình độ lớp 1 có 12 em (chiếm 17,91%), lớp 2 có 8 em (chiếm 11,94%), lớp 3 có 12 em (chiếm 17,91%), lớp 4 có 6 em (chiếm 8,96%), lớp 5 có 5 em (chiếm 7,46%). Ở bậc trung học cơ sở, lớp 6 có 7 em (chiếm 10,45%), lớp 7 có 9 em (chiếm 13,43%), lớp 8 có 7 em (chiếm 10,45%) và chỉ có 1 em duy nhất học lớp 9 (chiếm 1,49%).

Thứ hai, tỷ lệ trẻ có biểu hiện hành vi lệch chuẩn ở ngoài xã hội chiếm tỷ lệ đặc biệt cao, lên đến 98,51% (tương đương 66 trên tổng số 67 em). Cụ thể từng dạng hành vi diễn ra thường xuyên bao gồm:

  • Hành vi chửi tục: 50 em, chiếm tỷ lệ cao nhất với 74,63%.
  • Hành vi đánh nhau: 41 em, chiếm tỷ lệ 61,19%.
  • Hành vi hút thuốc lá: 40 em, chiếm tỷ lệ 59,70%.
  • Hành vi nói dối: 40 em, chiếm tỷ lệ 59,70%.
  • Hành vi trộm cắp: 35 em, chiếm tỷ lệ 52,24%.
  • Hành vi tham gia băng nhóm: 18 em, chiếm tỷ lệ 26,87%.

Thứ ba, nghiên cứu phát hiện tính chất liên kết phức hợp giữa các hành vi. Khi trẻ xuất hiện hành vi đánh nhau, có tới hơn 80% trường hợp đi kèm với chửi tục và nói dối nhằm tạo vỏ bọc tự vệ hoặc khẳng định vị thế trước các thành viên khác.

Thứ tư, hoàn cảnh gia đình đóng vai trò tác nhân trực tiếp. Hơn 75% trẻ em được khảo sát xuất thân từ các gia đình có điều kiện kinh tế nghèo khó, cha mẹ ly hôn, mất sớm hoặc nghiện ngập, khiến các em bị thiếu hụt nghiêm trọng về nhu cầu gắn bó tình cảm và an toàn thân thể.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích động cơ hành vi dưới lăng kính thang nhu cầu Maslow, các hành vi bạo lực, trộm cắp hay chửi tục thực chất là phản ứng thích nghi tiêu cực nhằm bù đắp những thiếu thốn về nhu cầu sinh lý nền tảng và nhu cầu an toàn khi trẻ phải đơn độc sinh tồn trên đường phố. Khi bị xã hội kỳ thị và ruồng bỏ, việc tham gia băng nhóm hay gây gổ trở thành phương thức giúp trẻ khẳng định sự tự tôn và tìm kiếm cảm giác thuộc về một tập thể đồng cảnh ngộ.

Kết quả nghiên cứu này tương thích chặt chẽ với các nghiên cứu tâm lý học quốc tế và trong nước, khẳng định rằng hơn 80% chấn thương tâm lý dẫn đến hành vi chống đối xã hội bắt nguồn từ sự đổ vỡ quan hệ gia đình và thiếu hụt sự tôn trọng nhân cách. Dữ liệu thực nghiệm được tác giả hệ thống hóa rõ ràng thông qua hệ thống bảng số liệu tần suất và các biểu đồ cột so sánh trực quan. Các biểu đồ mô tả sinh động sự suy giảm mạnh mẽ của các hành vi đánh nhau, chửi tục và hút thuốc sau khi trẻ được sống trong môi trường tôn trọng, yêu thương và đồng hành cùng các tình nguyện viên.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở phân tích thực trạng và kiểm chứng thực nghiệm, đề tài đề xuất 4 nhóm giải pháp sư phạm nhân văn cụ thể nhằm khắc phục bền vững hành vi lệch chuẩn nơi trẻ em đường phố:

Thứ nhất, nâng cấp điều kiện thỏa mãn nhu cầu sinh lý căn bản. Ban Giám đốc và bộ phận hậu cần của trung tâm cần chuẩn hóa định lượng bữa ăn đạt tối thiểu 2.200 kcal/ngày, bảo đảm nước sạch, quần áo ấm và không gian phòng ngủ vệ sinh cho 100% trẻ em. Thời gian triển khai hoàn thiện trong quý 1 năm 2016, tạo nền tảng thể chất khỏe mạnh để giảm thiểu các xung đột sinh hoạt.

Thứ hai, thiết lập môi trường an toàn và chấm dứt các biện pháp kỷ luật trừng phạt thân thể. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cam kết cắt giảm 100% các hình thức xử phạt bạo lực, mắng mắng xúc phạm; thay thế bằng các quy chế ứng xử thân thiện và cơ chế bảo vệ an toàn tinh thần. Mục tiêu giảm tỷ lệ xung đột bạo lực nội bộ xuống dưới 10% trong vòng 3 tháng đầu áp dụng.

Thứ ba, triển khai mô hình giáo dục đồng hành và tôn trọng nhân cách. Đội ngũ giáo viên phối hợp cùng mạng lưới tình nguyện viên duy trì định kỳ tối thiểu 2 buổi sinh hoạt/tuần vào các chiều thứ Bảy và Chủ nhật. Thông qua việc lắng nghe, chia sẻ và thấu cảm, giải pháp hướng đến mục tiêu đạt trên 85% trẻ tin tưởng tâm sự khó khăn cá nhân sau 6 tháng đồng hành.

Thứ tư, đổi mới chương trình phát triển năng khiếu và đào tạo nghề nghiệp. Phòng Giáo dục Dạy nghề của trung tâm chủ trì mở mới 4 lớp sinh hoạt năng khiếu (võ thuật, đàn hát, thể thao, vẽ tranh) và hoàn thiện 5 xưởng thực hành nghề nghiệp (may công nghiệp, điện dân dụng, cắt uốn tóc, sửa chữa xe máy, tin học văn phòng). Chương trình đặt mục tiêu giúp 80% thanh thiếu niên từ 15 tuổi trở lên có tay nghề vững vàng trước khi tái hòa nhập xã hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Thứ nhất, cán bộ quản lý và nhân viên công tác xã hội tại các trung tâm bảo trợ trẻ em: Luận văn cung cấp cẩm nang thực hành về quy trình chuyển đổi mô hình quản lý từ kỷ luật cứng nhắc sang phương pháp đồng hành nhân văn, giúp nâng cao hiệu quả cảm hóa trẻ có hành vi cá biệt đạt tỷ lệ thành công trên 80%.

Thứ hai, giảng viên và sinh viên ngành Giáo dục học, Tâm lý học và Công tác xã hội: Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính trên mẫu thực tế 67 trẻ em cơ nhỡ, giúp làm sâu sắc thêm các bài giảng về tâm lý học lứa tuổi và giáo dục học hòa nhập.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới tình nguyện viên cộng đồng: Cung cấp khung kỹ năng tổ chức sân chơi giáo dục, phương pháp tiếp cận thân thiện và cách thức thiết kế các dự án can thiệp tâm lý xã hội kéo dài từ 6 đến 12 tháng dành cho trẻ em đường phố.

Thứ tư, các bậc cha mẹ và người chăm sóc trẻ vị thành niên: Giúp gia đình nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc đáp ứng nhu cầu tôn trọng và lắng nghe, từ đó điều chỉnh phong cách nuôi dạy con cái, hạn chế nguy cơ trẻ bỏ nhà đi bụi hoặc sa ngã xuống dưới mức 5%.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao trẻ em đường phố thường có tỷ lệ chửi tục và đánh nhau cao nhất? Theo kết quả khảo sát, chửi tục chiếm 74,63% và đánh nhau chiếm 61,19% vì đây là những phản xạ tự vệ tức thời của trẻ trước những đe dọa, bắt nạt ngoài đường phố. Khi thiếu vắng sự bảo vệ từ gia đình, trẻ buộc phải dùng sự hung hăng để thị uy, bảo vệ tài sản và khẳng định chỗ đứng trước các nhóm trẻ khác.

Thuyết nhu cầu của Maslow được ứng dụng như thế nào trong việc giáo dục trẻ lệch chuẩn? Học thuyết Maslow chỉ ra rằng hành vi sai lệch xuất phát từ việc các nhu cầu cơ bản bị thiếu hụt. Khi trung tâm đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh lý và sự an toàn, đồng thời tạo cơ hội để trẻ được tôn trọng và yêu thương thông qua các hoạt động đồng hành, động cơ gây hấn sẽ tự khắc suy giảm và biến mất.

Kỷ luật nghiêm khắc và hình phạt có giúp trẻ đường phố sửa đổi hành vi không? Các biện pháp kỷ luật cứng nhắc chỉ mang lại sự phục tùng tạm thời và mang tính đối phó. Việc dùng đòn roi hay lời lẽ xúc phạm làm gia tăng cảm giác bất an và kích hoạt tâm lý chống đối xã hội, khiến trẻ có nguy cơ tái phạm hành vi lệch chuẩn cao hơn ngay khi rời khỏi trung tâm.

Trình độ học vấn có mối liên hệ như thế nào với các hành vi sai lệch của trẻ? Khảo sát cho thấy 64,18% trẻ có học vấn dưới tiểu học. Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng nhận thức quy chuẩn đạo đức và kỹ năng kiểm soát cảm xúc. Điều này trực tiếp thúc đẩy các hành vi vi phạm như nói dối (59,70%) hay trộm cắp (52,24%) do thiếu hiểu biết về hậu quả pháp lý.

Đội ngũ tình nguyện viên đóng vai trò gì trong việc chuyển hóa hành vi của trẻ? Tình nguyện viên đóng vai trò là những người bạn đồng hành không mang tính quyền lực quản lý. Thông qua các buổi sinh hoạt văn hóa và thể thao hàng tuần, thái độ đón nhận không định kiến của các tình nguyện viên giúp thỏa mãn nhu cầu tình cảm, giúp trẻ mở lòng và chuyển biến nhận thức một cách tự nguyện.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về hành vi lệch chuẩn và ứng dụng thành công thang nhu cầu Maslow vào công tác giáo dục nhân cách cho thanh thiếu niên đặc thù.
  • Khảo sát thực chứng toàn diện trên 67 trẻ em nam tại Trung tâm Giáo dục Dạy nghề Thanh thiếu niên Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ra 98,51% trẻ từng mắc các hành vi sai lệch khi sống ngoài đường phố.
  • Khẳng định tính ưu việt của phương pháp giáo dục nhân văn và sự đồng hành của tình nguyện viên so với các biện pháp kỷ luật trừng phạt truyền thống qua 7 tháng thực nghiệm.
  • Đề ra kế hoạch hành động chi tiết trong 12 tháng tiếp theo nhằm nhân rộng mô hình đồng hành thân thiện tại các cơ sở bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố.
  • Kêu gọi các cấp ban ngành, tổ chức xã hội và cộng đồng chung tay xây dựng môi trường giáo dục an toàn, tràn đầy tình thương nhằm hỗ trợ trẻ em đường phố tái hòa nhập bền vững.