CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN GIÁ TRỊ HỢP LÝ 1. NỀN TẢNG LÝ THUYẾT VỀ ĐỊNH GIÁ TRONG KẾ TOÁN 1. Khái niệm định giá trong kế toán Theo IASB (2010) định giá là một quá trình xác định giá trị tiền tệ của các yếu tố trong BCTC được ghi nhận và trình bày trên bảng cân đối kế toán và kết quả hoạt động kinh doanh. “Định giá là một phương pháp cơ bản của kế toán, biểu hiện các đối tượng kế toán bằng tiền theo những nguyên tắc và yêu cầu nhất định “ ( Nguyễn Việt và Võ Văn Nhị, 1997, trang 132).
Thông qua định giá, giá trị của các đối tượng kế toán của doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, xác định được giá trị tài sản, nguồn vốn, cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Việt và Võ Văn Nhị, 2006) Về cơ bản có 2 loại định giá: định giá ban đầu và định giá sau ghi nhận ban đầu. Định giá ban đầu có nhiệm vụ xác định giá trị của đối tượng kế toán ngay khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh để ghi nhận vào sổ sách kế toán. Sau một kỳ nhất định, xuất phát từ sự thay đổi giá trị của các đối tượng này như hao mòn, giảm chất lượng… cần phải đánh giá lại giá trị của đối tượng kế toán. Định giá ảnh hưởng đến quyết định của tất cả các đối tượng sử dụng BCTC.
BCTC là một nguồn thông tin về tài chính quan trọng nhất, nó cung cấp thông tin về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh và những thay đổi về hiện trạng tài chính của doanh nghiệp. Những thông tin này rất quan trọng cho nhiều người sử dụng khác nhau trong việc hình thành quyết định kinh tế của họ (IASB, 2010). Những người sử dụng này có thể được chia thành các nhóm chính sau: cổ đông và cổ đông tiềm năng, người lao động, người cho vay, nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ, khách hàng, chính phủ và người dân. Mỗi một nhóm người sử dụng có nhu cầu khác nhau để trợ giúp việc hình thành quyết định.
Tuy nhiên, BCTC không thể cung cấp thông tin thoả mãn được nhu cầu cho tất cả các nhóm. Trong đó, cổ đông được xem là 7 nhóm quan trọng nhất bởi vì họ là những người cấp vốn cho công ty, doanh nghiệp. Nếu một BCTC đáp ứng được nhu cầu của các cổ đông, thì nó kỳ vọng cũng đáp ứng được nhu cầu của hầu hết các đối tượng khác. Các đặc điểm chất lượng của BCTC ảnh hưởng đến việc định giá.
Do định giá ảnh hưởng đến quyết định của tất cả các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính, vì vậy các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính cũng ảnh hưởng đến việc định giá: “ Có thể hiểu được (Understandability): để cung cấp thông tin hữu ích, báo cáo tài chính phải có thể hiểu được bởi người sử dụng. Người đọc được giả thiết là có một kiến thức nhất định về kinh tế, kinh doanh và kế toán và có thiện chí, nổ lực để đọc báo cáo tài chính. Tuy nhiên, thông tin về một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định không được loại trừ khỏi báo cáo tài chính chỉ vì nó khó hiểu đối với một số đối tượng sử dụng. Thích hợp (Relevance): thông tin hữu ích khi nó thích hợp với nhu cầu đưa ra quyết định của người sử dụng.
Thông tin thích hợp khi nó có thể giúp người đọc đánh giá quá khứ, hiện tại hoặc tương lai hoặc xác nhận, điều chỉnh các đánh giá trước đây. Tính thích hợp bao gồm tính dự toán và tính xác nhận hai đặc tính này có quan hệ với nhau. Đáng tin cậy (Reliability): đáng tin cậy nghĩa là không có sai sót hay thiên lệch một cách trọng yếu, đồng thời phản ảnh trung thực vấn đề cần phải trình bày. Đáng tin cậy bao gồm các yêu cầu: trình bày trung thực, nội dung quan trọng hơn hình thức, không thiên lệch, thận trọng và đầy đủ.
Có thể so sánh (Comparability): BCTC chỉ hữu ích khi có thể so sánh với năm trước, với doanh nghiệp khác. Do đó, các nghiệp vụ giống nhau phải được đánh giá và trình bày một cách nhất quán trong toàn doanh nghiệp, giữa các thời kỳ và giữa các doanh nghiệp. Việc thuyết minh là cần thiết để bảo đảm tính so sánh được. Tuy nhiên, nhất quán không có nghĩa là doanh nghiệp không thay đổi chính sách kế toán khi cần thiết hoặc theo yêu cầu của chuẩn mực.Khái niệm về vốn và bảo toàn vốn Khái niệm về vốn Phương diện tài chính: vốn là tài sản thuần hay vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Phương diện vật chất: vốn được xem là năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Khái niệm bảo toàn vốn Theo IASB (2010) việc lựa chọn khái niệm vốn phù hợp với doanh nghiệp phải căn cứ vào nhu cầu của người sử dụng BCTC. Mặc dù có những khó khăn trong vấn đề xác định lợi nhuận theo từng khái niệm cụ thể, nhưng mỗi khái niệm sẽ cho biết mục tiêu xác định lợi nhuận của doanh nghiệp. Bảo toàn vốn tài chính: nghĩa là lợi nhuận chỉ đạt được khi giá trị tài chính (hay tiền tệ) của tài sản thuần vào cuối kỳ vượt quá giá trị tài chính (hay tiền tệ) của tài sản thuần vào lúc đầu kỳ, sau khi trừ các khoản phân phối hay đóng góp từ chủ sở hữu trong kỳ.
Bảo toàn vốn tài chính có thể được đo lường theo đơn vị tiền tệ danh nghĩa hay đơn vị sức mua ổn định. Bảo toàn vốn vật chất: nghĩa là lợi nhuận chỉ đạt được khi năng lực sản xuất vật chất (hay năng lực hoạt động) của doanh nghiệp (hoặc các nguồn lực hay quỹ cần thiết để đạt được năng lực này) vào cuối kỳ vượt quá năng lực sản xuất vật chất vào lúc đầu kỳ, sau khi trừ các khoản phân phối và đóng góp từ vốn chủ sở hữu trong kỳ. - Khái niệm bảo toàn vốn vật chất yêu cầu áp dụng giá hiện hành làm cơ sở định giá. Tuy nhiên, khái niệm bảo toàn vốn tài chính lại không đòi hỏi việc áp dụng một cơ sở định giá nào cụ thể.
Việc chọn lựa cơ sở xác định theo khái niệm này, phụ thuộc vào loại vốn tài chính mà doanh nghiệp đang tìm cách bảo toàn. Sự khác biệt giữa hai khái niệm vốn bảo toàn dẫn đến sự thay đổi trong việc xác định tài sản hay nợ phải trả của doanh nghiệp. Các hệ thống định giá kế toán Tương ứng với hai quan điểm bảo toàn vốn tài chính và bảo toàn vốn vật chất đã có bốn hệ thống định giá kế toán: 9 “Kế toán dựa trên giá gốc (historical cost): dựa trên giá mua vào quá khứ để ghi nhận các giao dịch và lập BCTC. Đây là hệ thống định giá truyền thống đã phát triển nhiều năm từ khi các kỹ thuật ghi sổ kép của Pacioli ra đời.
Trong thời kỳ khoa học cơ bản, các cơ sở lý luận của hệ thống này đã được hình thành, và cho đến nay hệ thống này vẫn còn giữ vai trò chủ yếu trong các thông lệ và chuẩn mực kế toán. Kế toán dựa trên mức giá chung (general price-level accounting): dựa trên chỉ số giá để điều chỉnh BCTC nhằm loại trừ ảnh hưởng của biến động giá, đặc biệt là lạm phát. Kế toán theo mức giá chung phát triển trong giai đoạn lạm phát gia tăng trên thế giới vào những năm thuộc thập niên 1960- 1970 và hiện nay vẫn còn được áp dụng ở một số quốc gia có lạm phát cao. Kế toán dựa trên giá hiện hành (current cost accounting): dựa trên giá hiện hành hay còn gọi là giá thay thế (replacement cost) của tài sản để lập BCTC và xác định lợi nhuận.
Giá hiện hành đã được đề cập rất sớm trong kế toán nhưng chỉ được trình bày một cách hệ thống với các cơ sở lý luận đầy đủ vào thời kỳ quy chuẩn, song song với việc phê phán giá gốc. Giá hiện hành cũng ảnh hưởng đến thực tiễn kế toán ở một số quốc gia trong thời kỳ lạm phát cao như một giải pháp thay thế cho kế toán dựa trên mức giá chung. Kế toán dựa trên giá đầu ra (exit price accounting): dựa trên giá bán trên thị trường để đo lường và đánh giá tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Kế toán giá đầu ra đặt những nền móng cho hướng phát triển kế toán theo thị trường (market-to-market accounting) sau này” ( Vũ Hữu Đức, 2010, trang 28,29).
Các loại giá được sử dụng trong hệ thống định giá kế toán Theo IASB (2010) cho rằng vấn đề định giá là chọn lựa giữa các cơ sở định giá và đưa ra các loại giá sau để làm cơ sở cho việc định giá : Giá gốc (historical cost) : tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc tương đương tiền phải trả hoặc GTHL của các khoản thanh toán để có được tài sản tại thời điểm mua tài sản. Nợ phải trả được ghi nhận theo số tiền nhận được để đổi lấy 10 nghĩa vụ (ví dụ khoản người mua ứng trước). Trong một số trường hợp, nợ phải trả được ghi theo số tiền hay tương đương tiền phải trả để hoàn thành nghĩa vụ trong một hoạt động kinh doanh bình thường (ví dụ thuế phải nộp). Giá hiện hành (current cost) : tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc tương đương tiền phải trả nếu muốn mua một tài sản tương tự tại thời điểm hiện tại.
Nợ phải trả được ghi theo số tiền hay tương đương tiền (không chiết khấu) để hoàn thành nghĩa vụ tại thời điểm hiện tại. Giá trị thuần có thể thực hiện (realizable/ settlement value): tài sản được ghi theo số tiền hoặc tương đương tiền có được bằng cách bán tài sản trong điều kiện bán bình thường. Nợ phải trả được ghi nhận theo số tiền hoặc tương đương tiền (không chiết khấu) phải trả để hoàn thành nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh bình thường. Hiện giá (present value): tài sản được ghi nhận theo giá trị hiện tại (đã chiết khấu) của dòng tiền thuần dự định thu vào trong tương lai được mong đợi mang lại trong điều kiện kinh doanh bình thường.
Nợ phải trả được ghi nhận theo giá trị hiện tại (đã chiết khấu) của dòng tiền ra thuần trong tương lai sẽ phải thanh toán trong điều kiện kinh doanh bình thường. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KẾ TOÁN GÍA TRỊ HỢP LÝ 1.