CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN VẤN ĐÈ NGHIÊN cứu VÈ ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ TRỊ HỢP LÝ ĐÉN CHÁT LƯỢNG LỢI NHUẬN Nội dung chương này, luận văn sẽ trình bày một cách tổng quát về các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và trong nước trước đây về các vấn đề FAIR liên quan đến AEQ. Từ đó, luận văn đưa ra nhận xét về kết quả mà các nghiên cứu trước đã tìm được và xác định khe hổng nghiên cứu. Qua đó, luận văn xác định được vấn đề nghiên cứu của đề tài.1 Các nghiên cứu trên thế giói Hiện nay có rất nhiều các nghiên cứu về từng khía cạnh đo lường AEQ của ngân hàng và các doanh nghiệp. Đối với ngành ngân hàng cũng có nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến AEQ.
Điển hình, Takacs và Szucs (2019) đã xem xét mức độ giảm lãi suất ảnh hưởng đến AEQ với 128 ngân hàng châu Âu từ 27 quốc gia. Dữ liệu trong nghiên cứu được thu thập từ năm 2007 đến năm 2015. Ket quả cho thấy mức độ giảm lãi suất ảnh hưởng tiêu cực đến AEQ của các ngân hàng châu Âu. Một số nghiên cứu đề cập đến AEQ ở các doanh nghiệp.
Tiểu biểu, Gaio (2010) đã nghiên cứu tầm quan trọng tương đối của các đặc điểm của doanh nghiệp và quốc gia đối với AEQ trên toàn thế giới. Nghiên cứu này đã sử dụng thước đo thu nhập dựa trên bảy thuộc tính là chất lượng dồn tích, tính bền vững, khả năng dự báo, tính ổn định, giá trị thích hợp, tính kịp thời và tính bảo thủ. Phương pháp thu nhập được tính toán bằng cách sử dụng dữ liệu kế toán từ cơ sở dữ liệu Worldscope của 7.215 công ty ở 38 quốc gia (22 nước phát triển và 16 nước đang phát triển) trong giai đoạn từ năm 1990 đến 1996 và từ 1997 đến 2003. Kết quả cho thấy các đặc điềm của doanh nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc giải thích AEQ và môi trường quốc gia có khả năng nắm bắt tốt hơn sự thay đổi về AEQ.
Evvert và Wagenhofer (2011) đề cập trực tiếp đến các thước đo AEQ, mục đích của nghiên cứu này là đánh giá mức độ hữu ích và tính thích hợp của các chỉ số thu nhập thường được sử dụng. Tính bền vững, khả năng dự đoán, tính ổn định, mức độ liên quan của giá trị và chất lượng dồn 6 tích được dùng làm thước đo cho nghiên cứu này. Nghiên cứu cho thấy các chỉ số có ảnh hưởng khác nhau và có liên quan chặt chẽ đến AEQ. Heidarpoor và Shahrivar (2015) đánh giá hiệu quả của chất lượng kiểm soát nội bộ và rủi ro phi hệ thống đối với AEQ bằng cách sử dụng chỉ số lợi nhuận biến động của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tehran.
Dữ liệu thu thập từ năm 2008 đến 2012. Theo kết quả nghiên cứu, chất lượng kiểm soát nội bộ và rủi ro phi hệ thống ảnh hưởng đến sự biến động của lợi nhuận doanh nghiệp. Vì vậy, các nhà quản lý doanh nghiệp nên đưa ra các biện pháp nâng cao AEQ thông qua việc thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ và đơn vị kiểm toán nội bộ. SeTin và Murvvaningsari (2018) đã kiểm tra ảnh hưởng của khả năng quản lý đối với AEQ với ủy ban kiểm toán.
Nghiên cứu đa đo lường AEQ bằng mức độ ổn định của thu nhập. Dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 53 doanh nghiệp sản xuất tại Indonesia trong giai đoạn 2014 đến 2016. Ket quả cho thấy năng lực quản lý có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến AEQ. Tuy nhiên, lãi suất có ảnh hưởng tiêu cực nhưng không đáng kể.
Palas và Solomon (2021) sử dụng tính bền vững và khả năng dự báo để đo lường AEQ. Nghiên cứu dùng ngôn ngữ báo cáo kinh doanh (XBRL) để thu thập dữ liệu gồm 245 doanh nghiệp được giao dịch công khai ở Hoa Kỳ trong giai đoạn từ 2012 đến 2017. Ket quả cho rằng AEQ đối với các doanh nghiệp lớn cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ và tăng lên theo thời gian. Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của FAIR đến AEQ ở doanh nghiệp và ngân hàng.
Đối với lĩnh vực ngân hàng, Sodan (2015) đã nghiên cứu mức độ sử dụng FAIR ảnh hưởng đến AEQ ở các nước Đông Âu trong giai đoạn 2002 - 2011 với 598 doanh nghiệp và 78 ngân hàng niêm yết ở 17 quốc gia. Ở nghiên cứu này, AEQ được đo lường theo chất lượng tích lũy, tính bền vững, khả năng dự báo, tính biến động, mức độ phù họp về giá trị và tính thận trọng có điều kiện. Ket quả cho thấy mức thu nhập toàn diện dựa trên FAIR có liên quan tiêu cực den AEQ ở cả doanh nghiệp và ngân hàng. Tuy nhiên, lãi (lỗ) thuần được báo cáo trên tài sản theo FAIR thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng ít có ý nghĩa hơn trong việc giải thích sự thay đổi của các thước đo AEQ.
Mauro và các cộng sự (2017) đã nghiên cứu 7 dựa trên dữ liệu của 5.030 ngân hàng thương mại ở châu Âu từ năm 2007 đến 2016. AEQ trong nghiên cứu được đo lường bằng cách sử dụng tập hợp các thuộc tính như tính bền vững, khả năng dự báo, tính biến động sự thay đổi và ổn định của thu nhập. Kết quả nhận thấy FAIR ảnh hưởng tích cực đến AEQ, các ngân hàng châu Âu có FAIR lớn thì có AEQ cao hơn, cung cấp các công cụ tốt hơn. Vì thế AEQ cao làm giảm các rủi ro trong việc ra quyết định cho các nhà đầu tư cũng như đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính.
Yao và các cộng sự (2017) đã sử dụng phân tích hồi quy OLS dữ liệu bảng để phân tích dữ liệu của 210 ngân hàng trong giai đoạn 2009 đến 2013. Mục đích của nghiên cứu này là kiểm tra mối liên hệ giữa FAIR và tính ổn định của thu nhập, dữ liệu được thu thập từ cơ sở dữ liệu bankscope. Nghiên cứu này đo lường AEQ bằng các thuộc tính như tính bền vững, khả năng dự đoán, tính ổn định. Kết quả cho thấy việc sử dụng FAIR cho các tài sản tài chính giúp tăng cường thu nhập bền vững.
Gần đây, Takacs và các cộng sự (2020) nghiên cứu về ảnh hưởng của FAIR đến AEQ dựa trên dữ liệu thứ cấp của 409 ngân hàng châu Âu (225 ngân hàng từ 19 quốc gia phát triển và 184 ngân hàng từ 21 quốc gia châu Âu mới nổi) giai đoạn 2006 đến 2018. Nghiên cứu này sử dụng các biến FAIR, mức thay đổi lãi suất, quy mô doanh nghiệp và loại quốc gia để giải thích cho biến AEQ. Kết quả cho thấy trong khi sự thay đổi lãi suất, quy mô của các ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến AEQ, thì tỷ trọng tài sản có FAIR lại có ảnh hưởng tích cực đáng kể đối với các nước phát triến áp dụng IFRS 13. Shaban và các cộng sự (2020) qua việc phân tích 10 ngân hàng thương mại tại Jordan từ 2011 đến 2018 bằng SPSS.
Nghiên cứu kết luận rằng lãi hoặc lỗ chưa thực hiện của FAIR được dự báo thông qua thu nhập toàn diện có khả năng dự báo cao về AEQ. Olaoye và Falayi (2020) đã sử dụng các biến FAIR, quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính để giải thích cho AEQ. Bằng cách sử dụng hồi quy dữ liệu bảng và kiểm tra tương quan Nigeria với dữ liệu thứ cấp của mười ngân hàng từ năm 2012 đến 2016. Kết quả nghiên cứu cho thấy FAIR, quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính đều có mối quan hệ đáng kể và nghịch biến với AEQ.
Điều này có nghĩa FAIR có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng dự báo của thu nhập. Bên cạnh đó, quy mô ngân 8 hàng và đòn bẩy tài chính cũng cho thấy mối quan hệ tiêu cực. Do đó, các biến này không phải là cơ sở đáng tin cậy của khả năng dự báo thu nhập. Điều này ảnh hưởng đến các quyết định của nhà đầu tư cũng như của các đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính.
Rhee và các cộng sự (2018) nghiên cứu trên 147 doanh nghiệp Hàn Quốc. Đối với các doanh nghiệp có hệ thống FAIR kém chất lượng sẽ có khả năng điều chỉnh thu nhập và quản lý thu nhập để đạt được mục tiêu cao hơn các công ty có hệ thống FAIR có chất lượng và hệ thống FAIR mở rộng theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Điều này sẽ làm giảm tính trung thực của thông tin tài chính đối với giá cổ phiếu.1 Bảng tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới nn r _ __ • 2. Tác giá Mục tiêu Phuong Đối tượng và Kết quả nghiên cứu pháp phạm vi nghiên cứu Gaio Nghiên Phương - Đối tượng: Đặc Các đặc điểm (2010) cứu tầm pháp điểm của doanh của doanh quan trọng nghiên cứu nghiệp và quốc nghiệp đóng vai của các đặc định lượng gia đối với AEQ.
trò quyết định điểm của với phân - Phạm vi: 7.215 trong việc giải doanh tích hồi doanh nghiệp ở 38 thích AEQ và nghiệp đối quy OLS. quốc gia trên thế môi trường quốc với AEQ. giới (22 nước phát gia có khả năng triển và 16 nước nắm bắt tốt hơn đang phát triển) sự thay đổi về giai đoạn 1990- AEQ. Heidarpo Đánh giá Hồi quy dữ - Đối tượng: Chất Chất lượng kiểm or và hiệu quả liệu bảng lượng kiểm soát soát nội bộ và rủi Shahrivar của chất với phân nội bộ và rủi ro ro phi hệ thống (2015) lượng kiểm tích hồi ảnh hưởng đến soát nội bộ quy POLS, sự biến động của và rủi ro 9 nn r _ __ • 2.
Tac gia Mục tiêu Phuong Đối tượng và Kết quả nghiên cứu pháp phạm vi nghiên cứu phi hệ FEM, phi hệ thống đối lợi nhuận doanh thống đối REM. - Phạm vi: Các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tehran giai đoạn 2008-2012. Sedan Tác động Phương - Đối tượng: FAIR Mức thu nhập (2015) của FAIR pháp và AEQ. toàn diện dựa đến AEQ.
nghiên cứu - Phạm vi: 598 trên FAIR có định lượng doanh nghiệp và liên quan tiêu với phân 78 ngân hàng cực đến AEQ ở tích hồi niêm yết ở 17 cả doanh nghiệp quy OLS. quốc gia các nước và ngân hàng. Đông Âu giai đoạn 2002-2011. Yao và Nghiên Phân tích - Đối tượng: FAIR Việc sử dụng các cộng cứu mối hồi quy đến tính ổn định FAIR cho các tài sự (2017) liên hệ OLS dư của thu nhập.
sản tài chính giữa FAIR liệu bảng. -Phạm vi: 210 giúp tăng cường và tính ổn ngân hàng quốc tế thu nhập bền định của giai đoạn 2009- vững.