Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Áp dụng giá trị hợp lý trong công tác kế toán ở các công ty chứng khoán Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Tuấn Duy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Mai Ngọc Anh, bảo vệ tại Học viện Tài chính năm 2021, thuộc chuyên ngành Kế toán (mã số 9.34.03.01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Về mặt lý luận, giá trị hợp lý (GTHL - Fair Value) là một trong những thang đo đo lường giá trị cho nhiều đối tượng kế toán được trình bày trên báo cáo tài chính (BCTC). Cùng với xu thế phát triển kinh tế toàn cầu, hệ thống Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS/IAS), đặc biệt là IFRS 13 và FAS 157, đã chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng áp dụng GTHL nhằm nâng cao tính thích hợp và kịp thời của thông tin tài chính. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế về các nhân tố chi phối việc áp dụng GTHL vẫn chưa thực sự phong phú và chưa đạt được sự đồng thuận cao.
Về mặt thực tiễn, Việt Nam đã có những bước chuyển mình quan trọng thông qua việc ban hành Luật Kế toán số 88/2015/QH13 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017), lần đầu tiên chính thức thừa nhận nguyên tắc GTHL bên cạnh nguyên tắc giá gốc truyền thống. Đối với lĩnh vực tài chính, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 210/2014/TT-BTC và Thông tư số 334/2016/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán áp dụng cho các công ty chứng khoán (CTCK), trong đó quy định ghi nhận và đánh giá lại các tài sản tài chính theo GTHL. Dù vậy, mức độ áp dụng GTHL giữa các CTCK còn chưa đồng đều, tồn tại khoảng cách lớn giữa quy định pháp lý và thực hành thực tế.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Tại Việt Nam, hầu hết các công trình trước đây chỉ dừng lại ở nghiên cứu định tính, hệ thống hóa lý thuyết chung hoặc kiến nghị mang tính chuẩn tắc. Chưa có một công trình nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu nào đo lường cụ thể mức độ áp dụng GTHL cũng như kiểm định các nhân tố chi phối mức độ áp dụng GTHL tại các CTCK Việt Nam để làm căn cứ khoa học cho việc hoàn thiện cơ chế chính sách.
Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về GTHL, nhận diện, đo lường, ghi nhận và trình bày các đối tượng kế toán theo GTHL trong doanh nghiệp, đặc biệt là các định chế tài chính trung gian.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng áp dụng GTHL trong công tác kế toán tại các CTCK Việt Nam giai đoạn 2016 - 2019.
- Xác định, lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố đặc thù đến chỉ số áp dụng GTHL tại các CTCK niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện việc áp dụng GTHL trong kế toán tại các CTCK và hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về GTHL và kinh nghiệm quốc tế về áp dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp được xác lập như thế nào?
- Thực trạng áp dụng GTHL trong công tác kế toán tại các CTCK Việt Nam trong giai đoạn thực thi Thông tư 210/2014/TT-BTC đang diễn ra ra sao?
- Những nhân tố nào chi phối mức độ áp dụng GTHL của các CTCK Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố như thế nào?
- Cần thực hiện những định hướng và giải pháp cụ thể nào nhằm nâng cao tính hiệu quả của việc áp dụng GTHL tại các CTCK Việt Nam trong thời gian tới?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác kế toán theo giá trị hợp lý tại các công ty chứng khoán.
- Phạm vi không gian: Các CTCK đang hoạt động tại Việt Nam, trọng tâm khảo sát và kiểm định định lượng là 23 CTCK niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu thực trạng và số liệu phân tích định lượng được thu thập trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm chủ đề chính:
Nhóm nghiên cứu lý thuyết nền tảng và vai trò của GTHL
- Chambers (1966; 1975): Đưa ra quan điểm GTHL là giá trị thực tế của tài sản trong giao dịch ngang giá, xuất phát từ khái niệm "hành vi phù hợp của một công ty".
- Sterling (1970): Sử dụng tình huống thị trường lúa mì hoàn hảo để chứng minh giá thị trường hiện hành vượt trội hơn so với giá gốc trong việc hỗ trợ ra quyết định kinh tế.
- MacNeal (1970): Dựa trên lý thuyết cổ đông để khẳng định giá gốc không phản ánh đúng giá trị thực tế của tài sản và ủng hộ việc phản ánh các khoản lãi/lỗ theo giá thị trường cạnh tranh.
Nhóm nghiên cứu thực nghiệm về tác động của GTHL trong kế toán doanh nghiệp
- Barth (1994), Barth, Landsman & Wahlen (1995): Kiểm định trên các ngân hàng thương mại Mỹ, chỉ ra GTHL của các khoản đầu tư chứng khoán có mối tương quan chặt chẽ với giá cổ phiếu, tuy nhiên thu nhập đo lường bằng GTHL có độ biến động ("bay hơi") cao hơn so với giá gốc.
- Ahmed & Takeda (1995): Phân tích tác động của các khoản lãi/lỗ chưa thực hiện (URGL) và lãi/lỗ đã thực hiện (SGL) đến lợi nhuận và giá cổ phiếu ngân hàng khi kiểm soát biến động lãi suất.
- Petroni & Wahlen (1995): Chứng minh GTHL của các khoản đầu tư vốn cổ phần và trái phiếu kho bạc có khả năng giải thích biến động giá cổ phiếu công ty bảo hiểm tốt hơn các loại trái phiếu ít thanh khoản.
- Nelson (1996), Eccher và cộng sự (1996), Barth và cộng sự (1996), Venkatachalam (1996): Đánh giá tính thích hợp của việc công bố GTHL theo chuẩn mực SFAS 107 và SFAS 119 đối với các công cụ tài chính phái sinh và nợ dài hạn.
- Kim & Ritter (1999), Kolev (2009), Goh và cộng sự (2009), Song và cộng sự (2010), Fiechter & Novotny-Farkas (2011), Palea & Maino (2012): Khẳng định vai trò của GTHL đo lường theo 3 cấp độ (FAS 157) đối với định giá doanh nghiệp, định giá phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPOs) và tính minh bạch thông tin tài chính.
- Easton và cộng sự (1993), Barth & Clinch (1996; 1998), Aboody, Barth & Kasznik (1999), Muller & Riedl (2002): Khảo sát việc đánh giá lại tài sản hữu hình dài hạn (PPE), tài sản vô hình và bất động sản đầu tư tại Úc và Anh, chỉ ra việc đánh giá lại theo GTHL có tương quan thuận chiều với hiệu quả hoạt động tương lai và giá cổ phiếu.
- Christian Laux & Christian Leuz (2010): Phân tích khía cạnh thận trọng, chỉ ra các hạn chế của GTHL khi thị trường mất thanh khoản và rủi ro định giá sai lệch do dữ liệu đầu vào phi thị trường trong khủng hoảng tài chính 2007 - 2009.
Nhóm nghiên cứu về các nhân tố tác động tới việc áp dụng IFRS và GTHL
- Cấp độ vĩ mô: Larson & Street (2004), Irvine & Lucas (2006), Joshi, Bremser & Al-Ajmi (2008), Daniels, Radebaugh & Sullivan (2011), Olesen & Cheng (2011), Peng, Graham & Bewley (2013), Xianjie He và cộng sự (2011) tập trung vào các yếu tố chính trị, hệ thống pháp luật, trình độ thị trường vốn, thuế và văn hóa quốc gia ảnh hưởng đến lộ trình hội tụ IFRS.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Mai Ngọc Anh (2011), Nguyễn Thành Hưng (2011), Võ Văn Nhị và Lê Hoàng Phúc (2012) phân tích các rào cản và đề xuất điều kiện áp dụng GTHL cho hệ thống kế toán Việt Nam dưới góc độ định tính.
Vị trí và đóng góp của luận án
Kế thừa các công trình nghiên cứu trên, luận án giải quyết khoảng trống thực nghiệm tại Việt Nam bằng việc thiết lập một mô hình nghiên cứu định lượng hoàn chỉnh, khảo sát trực tiếp 23 CTCK niêm yết để đo lường chỉ số áp dụng GTHL và kiểm định định lượng tác động của các nhân tố vi mô (đặc điểm doanh nghiệp và quản trị công ty) tới mức độ áp dụng GTHL.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Giải thích động cơ của ban điều hành trong việc lựa chọn chính sách kế toán, minh bạch thông tin GTHL nhằm giảm thiểu chi phí đại diện và xung đột lợi ích với cổ đông.
- Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory): Thuyết minh việc cung cấp thông tin theo GTHL giúp giảm khoảng cách thông tin giữa nhà quản trị nội bộ và nhà đầu tư bên ngoài thị trường.
- Lý thuyết cổ đông (Stakeholder/Shareholder Theory): Nhấn mạnh nghĩa vụ cung cấp thông tin tài chính sát với thực tế thị trường phục vụ lợi ích ra quyết định của các bên liên quan.
- Khung phân cấp đo lường GTHL theo IFRS 13 / FAS 157:
- Cấp độ 1 (Level 1): Giá niêm yết trên thị trường hoạt động của các tài sản/nợ phải trả giống hệt.
- Cấp độ 2 (Level 2): Dữ liệu đầu vào có thể quan sát trực tiếp hoặc gián tiếp ngoài giá cấp độ 1.
- Cấp độ 3 (Level 3): Dữ liệu đầu vào không thể quan sát được trên thị trường (sử dụng các mô hình định giá như chiết khấu dòng tiền - DCF, định giá so sánh P/E, P/B).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng:
- Phương pháp định tính: Phân tích văn bản pháp quy (Luật Kế toán 2015, Thông tư 210/2014/TT-BTC, Thông tư 334/2016/TT-BTC); tham vấn ý kiến chuyên gia kế toán, kiểm toán để điều chỉnh thang đo các biến; nghiên cứu trường hợp điển hình (case studies) thông qua phân tích chuyên sâu báo cáo tài chính kiểm toán của Công ty Cổ phần Chứng khoán VNDirect (VNDirect), Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI (SSI) và Công ty Cổ phần Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HCM).
- Phương pháp định lượng:
- Mẫu nghiên cứu: Toàn bộ 23 CTCK niêm yết trên hai sở giao dịch HOSE và HNX giai đoạn 2016 - 2019 (tổng số 92 quan sát dạng dữ liệu bảng - Panel Data).
- Phương pháp tính biến phụ thuộc ($I_j$): Sử dụng phương pháp chỉ số công bố thông tin không trọng số (Unweighted Disclosure Approach) kế thừa từ Wallace, Naser & Mora (1994), Cooke (1992), Hossain, Tan & Adams (1994):
$$I_j = \frac{\sum_{i=1}^{m_j} d_{ij}}{n_j}$$
Trong đó:
- $I_j$: Chỉ số áp dụng GTHL của CTCK thứ $j$ ($0 \le I_j \le 1$).
- $d_{ij} = 1$ nếu mục thông tin thứ $i$ về GTHL được CTCK công bố; $d_{ij} = 0$ nếu không được công bố.
- $m_j$: Số lượng mục thông tin về GTHL thực tế được CTCK công bố.
- $n_j$: Số lượng tối đa mục thông tin về GTHL có thể áp dụng ($n \le 32$ mục theo chế độ kế toán CTCK).
| Ký hiệu biến |
Tên biến / Nhân tố |
Cách thức đo lường |
| Biến phụ thuộc |
|
|
| $I$ |
Chỉ số áp dụng GTHL |
Tỷ lệ số mục công bố GTHL thực tế / tổng số mục tối đa ($n \le 32$) |
| Biến độc lập |
|
|
| $TL$ |
Tỷ lệ HĐQT không điều hành |
Số thành viên HĐQT không điều hành / Tổng số thành viên HĐQT |
| $ĐN$ |
Sự tách biệt Chủ tịch HĐQT và TGĐ |
Biến giả: 0 nếu kiêm nhiệm; 1 nếu không kiêm nhiệm |
| $ST$ |
Quy mô Hội đồng quản trị |
Tổng số lượng thành viên HĐQT |
| $SS$ |
Quy mô Ban Kiểm soát |
Tổng số lượng thành viên Ban Kiểm soát |
| $NN$ |
Tỷ lệ sở hữu nước ngoài |
Tỷ lệ phần trăm sở hữu của cổ đông nước ngoài |
| $QM1$ |
Quy mô doanh thu |
Logarit tự nhiên của Tổng doanh thu ($\ln(DT)$) |
| $QM2$ |
Quy mô tổng tài sản |
Logarit tự nhiên của Tổng tài sản ($\ln(Tổng\ TS)$) |
| $ĐB$ |
Đòn bẩy tài chính |
Tổng Nợ phải trả / Vốn chủ sở hữu ($NPT/VCSH$) |
| $LN1$ |
Tỷ suất sinh lời trên tài sản |
Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản ($ROA$) |
| $LN2$ |
Tỷ suất sinh lời trên VCSH |
Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu ($ROE$) |
| $LN3$ |
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu |
Lợi nhuận sau thuế / Tổng doanh thu ($ROS$) |
| $LN4$ |
Tốc độ tăng trưởng doanh thu |
(Doanh thu năm nay - Doanh thu năm trước) / Doanh thu năm trước |
| $TT$ |
Khả năng thanh toán hiện hành |
Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn ($TSNH/Nợ\ ngắn\ hạn$) |
| $SN$ |
Thời gian niêm yết |
Số năm tính từ thời điểm niêm yết lần đầu đến năm khảo sát |
| $NY$ |
Sàn niêm yết |
Biến giả: 0 nếu niêm yết HNX; 1 nếu niêm yết HOSE |
| $KT$ |
Công ty kiểm toán độc lập |
Biến giả: 0 nếu kiểm toán bởi Big4; 1 nếu Non-Big4 |
| $CC$ |
Số lượng công ty con |
Tổng số lượng công ty con của CTCK |
- Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Thống kê mô tả, phân tích tương quan Pearson, kiểm định đa cộng tuyến, kiểm định phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và phân tích hồi quy đa biến OLS/Panel Data.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về GTHL và áp dụng GTHL trong kế toán doanh nghiệp
Chương 1 tập trung làm rõ các cơ sở tính giá trong kế toán bao gồm: Giá gốc, Giá trị hợp lý, Giá trị có thể thực hiện thuần, Giá trị hiện tại và Giá trị sử dụng. Tác giả phân tích hai mô hình tính giá cơ bản: Mô hình giá gốc kết hợp và Mô hình giá trị hợp lý.
Về bản chất áp dụng GTHL trong doanh nghiệp:
- Nhận diện đối tượng: Xác định các tài sản tài chính (Tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ - FVTPL, Tài sản tài chính sẵn sàng để bán - AFS, Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn - HTM, Các khoản cho vay và phải thu) và các công cụ nợ/tài sản phi tài chính.
- Phương pháp đo lường: Phân tích ba phương pháp tiếp cận theo IFRS 13 gồm phương pháp thị trường (Market Approach), phương pháp chi phí (Cost Approach) và phương pháp thu nhập (Income Approach).
- Ghi nhận và trình bày: Phân loại chênh lệch đánh giá lại tài sản theo GTHL vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (FVTPL) hoặc ghi nhận vào Báo cáo tình hình tài chính thuộc phần Vốn chủ sở hữu/Thu nhập toàn diện khác (AFS).
Chương 1 cũng tổng kết kinh nghiệm áp dụng GTHL của IASB, FASB, Liên minh Châu Âu (EU), Anh, Mỹ, Nhật Bản và rút ra 04 bài học kinh nghiệm quan trọng cho Việt Nam:
- Hoàn thiện đồng bộ hành lang pháp lý gắn liền với mức độ phát triển của thị trường vốn.
- Xây dựng chuẩn mực GTHL riêng biệt tương đương IFRS 13 với hướng dẫn đo lường chi tiết.
- Nâng cao vai trò độc lập và năng lực của các tổ chức định giá chuyên nghiệp.
- Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực kế toán - kiểm toán am hiểu các mô hình tài chính phức tạp.
Chương 2: Thực trạng áp dụng GTHL trong kế toán tại các CTCK Việt Nam
Chương 2 phân tích khung pháp lý kế toán hiện hành tại Việt Nam (Luật Kế toán 2015, Thông tư 210/2014/TT-BTC, Thông tư 334/2016/TT-BTC) và chỉ ra các quy định cụ thể về việc yêu cầu các CTCK bắt buộc xác định GTHL định kỳ cho các danh mục tự doanh FVTPL và AFS.
Thực trạng ghi nhận và đo lường tại các CTCK
Khảo sát thực tế tại 23 CTCK niêm yết cho thấy:
- 100% các CTCK đã nhận diện và áp dụng GTHL đối với danh mục FVTPL và AFS.
- Dữ liệu sử dụng đo lường GTHL chủ yếu tập trung ở Cấp độ 1 (sử dụng giá đóng cửa tại ngày khóa sổ trên HOSE, HNX và giá bình quân trên UPCoM).
- Đối với chứng khoán chưa niêm yết/chưa đăng ký giao dịch, phần lớn CTCK vẫn sử dụng giá gốc trừ đi dự phòng giảm giá hoặc áp dụng giá trị sổ sách của tổ chức phát hành thay vì áp dụng các mô hình định giá chiết khấu dòng tiền (Cấp độ 3) do thiếu dữ liệu thị trường và quy trình phức tạp.
Phân tích điển hình tại các CTCK quy mô lớn
- CTCK VNDirect: Thực hiện phân loại chi tiết FVTPL, AFS; thuyết minh đầy đủ các khoản chênh lệch tăng/giảm do đánh giá lại FVTPL phản ánh vào doanh thu/chi phí hoạt động trên Báo cáo kết quả hoạt động riêng.
- CTCK SSI: Công bố chi tiết phương pháp tiếp cận thị trường, phân định rõ ràng các chính sách kế toán đối với cổ phiếu niêm yết và cổ phiếu chưa niêm yết, phản ánh biến động GTHL của AFS trong vốn chủ sở hữu.
- CTCK TP. Hồ Chí Minh (HCM): Thuyết minh cụ thể cơ sở xác định GTHL tại mục cơ sở lập BCTC, công bố minh bạch các giả định định giá đối với các công cụ thị trường tiền tệ và trái phiếu.
Kết quả phân tích định lượng các nhân tố ảnh hưởng
Dựa trên phân tích 92 quan sát từ 23 CTCK niêm yết giai đoạn 2016 - 2019:
- Chỉ số áp dụng GTHL ($I_j$) bình quân của các CTCK có xu hướng tăng dần theo thời gian (từ 0.40 - 0.50 năm 2016 lên mức trên 0.65 - 0.72 năm 2019 ở các công ty lớn), nhưng mức độ phân tán còn cao giữa các CTCK top đầu và CTCK quy mô nhỏ.
- Kết quả kiểm định hồi quy đa biến:
- Quy mô doanh nghiệp ($QM1$ - Doanh thu, $QM2$ - Tổng tài sản) có tác động thuận chiều mạnh nhất có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$) đến mức độ áp dụng và công bố thông tin GTHL.
- Tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài ($NN$) có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến chỉ số $I_j$, do áp lực tuân thủ chuẩn mực quốc tế từ các nhà đầu tư nước ngoài.
- CTCK được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán Big4 ($KT$) có chỉ số áp dụng GTHL cao hơn rõ rệt so với nhóm Non-Big4.
- Các nhân tố quản trị công ty như Tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành ($TL$) và Sự tách biệt giữa Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc ($ĐN$) có tương quan thuận chiều với mức độ minh bạch GTHL.
- Các biến về Khả năng sinh lời ($ROA$, $ROE$) và Đòn bẩy tài chính ($ĐB$) cho thấy mức độ tác động phân hóa, không đạt ý nghĩa thống kê đồng nhất trên toàn bộ các mô hình kiểm định.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện áp dụng GTHL trong kế toán tại các CTCK Việt Nam
Tác giả phân tích bối cảnh chi phối gồm: Sự phát triển của thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán phái sinh; thực trạng thị trường dịch vụ thẩm định giá tại Việt Nam còn non trẻ, thiếu cơ sở dữ liệu giao dịch chuẩn hóa.
Luận án đề xuất hệ thống giải pháp chia thành 3 nhóm trọng tâm:
-
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và Chuẩn mực kế toán:
- Ban hành Chuẩn mực Kế toán Việt Nam về Đo lường Giá trị hợp lý trên cơ sở tiếp thu đầy đủ IFRS 13.
- Cập nhật, sửa đổi đồng bộ các chuẩn mực VAS hiện hành (VAS 03, VAS 04, VAS 14...) và xây dựng chuẩn mực về Công cụ tài chính (tương đương IFRS 9).
- Ban hành biểu mẫu báo cáo tài chính và hướng dẫn cụ thể việc trình bày Báo cáo thu nhập toàn diện (Comprehensive Income) cho CTCK.
-
Hoàn thiện thực hành kế toán tại các CTCK:
- Xây dựng quy trình định giá nội bộ và cẩm nang hướng dẫn định giá đối với tài sản tài chính Cấp độ 2 và Cấp độ 3.
- Đầu tư hệ thống công nghệ thông tin lõi (Core Securities System) tích hợp mô-đun tự động cập nhật dữ liệu thị trường và hạch toán chênh lệch GTHL theo thời gian thực.
- Thiết lập cơ chế kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro định giá độc lập giữa bộ phận Tự doanh và bộ phận Kế toán.
-
Kiến nghị đối với các bên liên quan:
- Bộ Tài chính & Ủy ban Chứng khoán Nhà nước: Xây dựng cổng thông tin cơ sở dữ liệu định giá chuẩn cho toàn thị trường; tăng cường chế tài giám sát chất lượng kiểm toán và công bố thông tin BCTC.
- Các Hội nghề nghiệp (VAA, VACPA): Ban hành các hướng dẫn kỹ thuật định giá và chuẩn mực kiểm toán đối với các ước tính kế toán GTHL.
- Các cơ sở đào tạo: Đưa nội dung đo lường GTHL, công cụ tài chính phái sinh và IFRS vào chương trình giảng dạy đại học và sau đại học.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt học thuật và lý luận
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về GTHL, làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa lý thuyết đại diện, lý thuyết bất cân xứng thông tin và yêu cầu áp dụng GTHL tại các định chế trung gian tài chính.
- Xây dựng thành công khung tiêu chí đo lường mức độ áp dụng GTHL dạng chỉ số không trọng số ($n \le 32$ chỉ mục) phù hợp với chế độ kế toán đặc thù của công ty chứng khoán tại một thị trường mới nổi.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về thực trạng và mức độ áp dụng GTHL tại 23 CTCK niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2016 - 2019.
- Xác định và định lượng rõ vai trò chi phối của các nhân tố: Quy mô tài sản, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, chất lượng kiểm toán độc lập (Big4) và cơ cấu quản trị HĐQT đối với mức độ minh bạch GTHL.
- Đề xuất lộ trình kỹ thuật và cấu trúc chuẩn mực kế toán GTHL tại Việt Nam, cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho Bộ Tài chính trong quá trình soạn thảo Đề án áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (VFRS/IFRS).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Mẫu nghiên cứu định lượng giới hạn ở 23 CTCK niêm yết trên hai sở HOSE và HNX; chưa bao quát được toàn bộ các CTCK chưa niêm yết hoặc công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài quy mô nhỏ.
- Dữ liệu thực nghiệm dừng lại ở giai đoạn 2016 - 2019, chưa phản ánh các biến động kinh tế và thay đổi chính sách kế toán trong giai đoạn 2020 trở về sau.
- Luận án tập trung sâu vào nhóm tài sản tài chính của CTCK, chưa mở rộng phân tích các tài sản phi tài chính (bất động sản, tài sản cố định vô hình) do tính chất đặc thù của đối tượng nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu định lượng sang toàn bộ các định chế tài chính khác tại Việt Nam như hệ thống Ngân hàng thương mại, Công ty Bảo hiểm, Quỹ đầu tư.
- Khảo sát giai đoạn áp dụng thí điểm IFRS/VFRS sau năm 2020 để so sánh mức độ sẵn sàng và tác động của GTHL đến tính biến động lợi nhuận và giá trị vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán, Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo phương pháp xây dựng chỉ số công bố thông tin (Disclosure Index), quy trình xử lý dữ liệu bảng (Panel Data) và phương pháp phân tích báo cáo tài chính điển hình.
- Giảng viên và các nhà nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên sâu về Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS 13, IFRS 9), kế toán công cụ tài chính và định giá tài sản trong kế toán.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN): Cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ công tác rà soát, sửa đổi Thông tư 210/2014/TT-BTC, xây dựng hệ thống Chuẩn mực Kế toán Doanh nghiệp Việt Nam (VFRS) mới.
- Ban lãnh đạo, Kế toán trưởng các CTCK: Cung cấp giải pháp kỹ thuật xây dựng quy trình định giá nội bộ, hoàn thiện hệ thống thuyết minh BCTC và kiểm soát rủi ro đánh giá lại tài sản.
Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án gồm: Bảng tổng hợp chỉ mục đo lường GTHL ($n=32$), Phân tích BCTC thực tế của VNDirect, SSI, HCM (Chương 2 và Phụ lục) và Đề xuất cấu trúc Chuẩn mực GTHL Việt Nam (Bảng 3.1, Bảng 3.2 tại Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Biến phụ thuộc đo lường mức độ áp dụng GTHL trong luận án được xây dựng theo công thức nào?
Biến phụ thuộc ($I_j$) được xác định bằng phương pháp chỉ số công bố thông tin không trọng số (Unweighted Disclosure Index):
$$I_j = \frac{\sum_{i=1}^{m_j} d_{ij}}{n_j}$$
Trong đó $d_{ij} = 1$ nếu mục thông tin thứ $i$ được công bố và bằng $0$ nếu không công bố; $m_j$ là số mục thực tế công bố, $n_j$ là số mục tối đa CTCK có thể công bố ($n \le 32$ chỉ mục kế toán theo Thông tư 210/2014/TT-BTC).
2. Các CTCK tại Việt Nam hiện chủ yếu áp dụng GTHL cho những nhóm tài sản nào?
Theo quy định tại Thông tư 210/2014/TT-BTC và thực tế khảo sát tại 23 CTCK niêm yết, GTHL được áp dụng bắt buộc và phổ biến nhất đối với hai nhóm tài sản tài chính: Tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (FVTPL) và Tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS).
3. Thực trạng áp dụng các cấp độ dữ liệu GTHL tại các CTCK Việt Nam diễn ra như thế nào?
Hầu hết các CTCK Việt Nam áp dụng GTHL ở Cấp độ 1 (sử dụng giá niêm yết chính thức trên HOSE, HNX và giá bình quân UPCoM). Việc áp dụng dữ liệu Cấp độ 2 và mô hình định giá nội bộ Cấp độ 3 (như chiết khấu dòng tiền DCF) cho các cổ phiếu chưa niêm yết hoặc công cụ nợ phức tạp còn rất hạn chế và chưa có tính nhất quán cao.
4. Những nhân tố nào có tác động thuận chiều mạnh nhất tới mức độ áp dụng GTHL tại các CTCK?
Kết quả kiểm định hồi quy chỉ ra ba nhân tố tác động tích cực có ý nghĩa thống kê lớn nhất là: Quy mô doanh nghiệp ($QM$ - đo bằng $\ln(Tổng\ TS)$ hoặc $\ln(DT)$), Tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài ($NN$) và Chất lượng kiểm toán độc lập (được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán thuộc nhóm Big4).
5. Luận án đề xuất cấu trúc Chuẩn mực Kế toán Việt Nam về GTHL như thế nào?
Luận án đề xuất Bộ Tài chính ban hành Chuẩn mực Kế toán Việt Nam riêng biệt về Giá trị hợp lý (tương đương IFRS 13), bao gồm: Quy định phạm vi áp dụng, định nghĩa GTHL thống nhất, xác định thị trường chính/thị trường có lợi nhất, hướng dẫn chi tiết ba phương pháp tiếp cận định giá (thị trường, thu nhập, chi phí), phân cấp 3 cấp độ dữ liệu đầu vào và quy định chuẩn hóa thuyết minh phân loại GTHL trên BCTC.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Tuấn Duy là công trình nghiên cứu toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận quốc tế và bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam về công tác kế toán theo giá trị hợp lý trong lĩnh vực chứng khoán. Bằng việc phân tích chuyên sâu báo cáo tài chính và kiểm định mô hình hồi quy trên 23 công ty chứng khoán niêm yết giai đoạn 2016 - 2019, luận án đã làm sáng tỏ thực trạng đo lường GTHL Cấp độ 1, 2, 3 và chỉ ra các nhân tố then chốt thúc đẩy tính minh bạch thông tin tài chính. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính khả thi cao, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý kế toán và thúc đẩy tiến trình hội tụ IFRS/VFRS tại Việt Nam.