phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chƣơng chính : Chƣơng 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán thuế GTGT Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán thuế GTGT tại công ty TNHH May Yes Vina Chƣơng 3: Hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT nhằm giải quyết những vƣớng mắc trong công tác kế toán thuế GTGT tại công ty TNHH May Yes Vina 3 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ KẾ TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG (GTGT) 1. Lịch sử hình thành và phát triển của thuế GTGT, bản chất, chức năng và vai trò của thuế GTGT 1.Lịch sử hình thành và phát triển của thuế GTGT Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu đƣợc nghiên cứu, áp dụng từ sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) nhằm động viên sự đóng góp rộng rãi của quần chúng nhân dân cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc, để nhanh chóng hàn gắn vết thƣơng chiến tranh. Thuế doanh thu đƣợc áp dụng ở Pháp từ năm 1917. Thời kỳ đầu thuế doanh thu chỉ đứng ở giai đoạn cuối cùng của quá trình lƣu thông hàng hoá, với thuế suất rất thấp.
Đầu năm 1920, thuế doanh thu đƣợc điều chỉnh, đánh vào từng khâu của quá trình sản xuất. Trong thực tế, cách đánh thuế này đã phát sinh nhƣợc điểm về tính chất trùng lặp. Nói cách khác, quá trình sản xuất ra sản phẩm càng qua nhiều khâu thì thuế càng cao và thuế chồng lên thuế. Để khắc phục nhƣợc điểm này, năm 1936, Pháp đã cải tiến thuế doanh thu qua hình thức đánh thuế 1 lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất (tức là khi sản phẩm đƣợc đƣa vào lƣu thông lần đầu).
Nhƣ vậy, việc đánh thuế độc lập, một lần với độ dài của quá trình sản xuất, khắc phục đƣợc hiện tƣợng đánh thuế trùng lặp trƣớc đó. Tuy nhiên, chính sách thuế này lại phát sinh nhƣợc điểm là việc thu thuế bị chậm trễ so với kỳ trƣớc, vì chỉ khi sản phẩm đƣợc đƣa vào khâu lƣu thông lần đầu, Nhà nƣớc mới đƣợc thu thuế. Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thuế doanh thu vẫn còn nhƣợc điểm nổi bật là thuế thu chồng chéo, trùng lặp… Đến năm 1954, Chính phủ Pháp đã ban hành loại thuế mới với tên gọi là thuế giá trị gia tăng, theo tiếng Pháp là TAXE SUR LA VALUER AJOU TÉE (viết tắt là TVA) đƣợc ban hành để áp dụng đối với ngành sản xuất, chủ yếu nhằm vào việc hạn chế thu thuế chồng chéo qua nhiều khâu trong lĩnh vực công nghiệp, với thuế suất đồng đều là 20% và chỉ khấu trừ thuế ở khâu 4 trƣớc đối với nguyên liệu. Quá trình thống nhất hoá Châu Âu đƣợc thúc đẩy vào những năm 50 đã có tác dụng thuận lợi để TVA đƣợc triển khai nhanh chóng ở các nƣớc khác.
Đến năm 1966, trong xu hƣớng cải tiến hệ thống thuế “ đơn giản và hiện đại ” chung ở Châu Âu, TVA đƣợc ban hành chính thức để thay thế một số sắc thuế gián thu. Năm 1986, TVA ở Pháp đƣợc áp dụng rộng rãi đối với tất cả các ngành nghề sản xuất, lƣu thông hàng hoá, dịch vụ, nhằm đáp ứng hai mục tiêu quan trọng : Bảo đảm số thu kịp thời, thƣờng xuyên cho ngân sách nhà nƣớc và khắc phục tình trạng thu thuế trùng lặp của thuế doanh thu. Khai sinh từ nƣớc Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng đƣợc áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nƣớc, đến nay đã có trên 130 nƣớc áp dụng thuế GTGT, chủ yếu là các nƣớc Châu Phi, Châu Mĩ La tinh, các nƣớc trong cộng đồng Châu Âu và Châu á, trong đó có Việt Nam đã bắt đầu thi hành từ ngày 1/1/1999 và gọi là thuế GTGT (Value Added Tax - viết tắt là VAT). Những điểm giống và khác nhau giữa thuế GTGT và thuế doanh thu 1.
Giống nhau Thuế GTGT và thuế doanh thu đều là thuế gián thu đánh vào ngƣời tiêu dùng hàng hóa hoặc đƣợc cung ứng dịch vụ. Doanh nghiệp đóng vai trò là ngƣời thu hộ thuế cho nhà nƣớc, họ đã cộng số thuế gián thu phải nộp vào giá bán sản phẩm hoắc dịch vụ để ngƣời tiêu dùng trả, nên họ phải nộp đầy đủ số thuế thu hộ này vào Ngân sách nhà nƣớc. Về mặt quản lý, thuế GTGT và thuế doanh thu tránh đƣợc mối quan hệ trực tiếp giữa ngƣời tiêu dùng-ngƣời chịu thuế với cơ quan thuế nên có phần dễ thu hơn thuế trực thu, hơn nữa chúng không quan tâm đến chi phí hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp nên chi phí quản lý có phần thấp hơn thuế trực thu. Khác nhau - Thuế GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lƣu thông.
Nhƣng thuế doanh thu lại đánh lên toàn bộ doanh thu của sản phẩm, qua mỗi làn chuyển dịch từ sản xuất đến lƣu thông. 5 - Thuế GTGT có khấu trừ thuế ở giai đoạn trƣớc. Thuế doanh thu không khấu trừ thuế đã nộp ở giai đoạn trƣớc. - Tổng số thuế GTGT đối với từng sản phẩm không phụ thuộc vào sự tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế, dù các công đoạn sản xuất, kinh doanh đƣợc chuyên môn hóa cao tập trung ở 1 doanh nghiệp hay phân chia cho nhiều doanh nghiệp, tổng số thuế thu đƣợc vẫn bằng nhau.
Ngƣợc lại, số thuế doanh thu đối với từng sản phẩm phụ thuộc vào sự tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế. Sản phẩm hàng hóa càng trải qua nhiều công đoạn sản xuất, lƣu thông thi tổng số thuế thu đối với từng sản phẩm từ khâu đầu đến khâu cuối cùng mà ngƣời tiêu dùng phải chịu càng cao. - Thuế GTGT thƣờng có số lƣợng thuế suất ít hơn thuế doanh thu, nên có phần đơn giản, rõ ràng và dễ thực hiện hơn thuế doanh thu. Bản chất của thuế GTGT đối với nền kinh tế quốc dân: Thuế GTGT là loại thuế gián thu, đánh trên khoản giá trị tăng thêm của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng.
Thực chất của loại thuế này là đánh vào sự tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ nên ngƣời chịu thuế ở đây chính là ngƣời tiêu dùng, các nhà sản xuất kinh doanh chỉ là ngƣời nộp thuế hộ cho ngƣời chịu thuế. Thông qua việc ban hành và áp dụng các loại thuế, Nhà nƣớc tập trung đƣợc 1 phần của cải xã hội vào ngân sách nhà nƣớc. Nhà nƣớc ấn định các thứ thuế áp dụng cho các thể nhân và pháp nhân trong xã hội. Việc các đối tƣợng nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đã tạo ra nguồn thu cơ bản cho ngân sách nhà nƣớc.
Chức năng và vai trò của thuế GTGT 1. Chức năng và vai trò của thuế GTGT trong lƣu thông hàng hóa Với tính ƣu điểm cuả thuế giá trị gia tăng là Nhà nƣớc chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm cuả các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lƣu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh nhƣ mô hình thuế doanh thu. Nếu nhƣ không có các sự kiện biến động về tài chính, tiền tệ, sản xuất và lƣu thông giảm sút, yếu kém, kinh tế suy thoái và các nguyên nhân khác tác động thì việc áp dụng thuế 6 giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu sẽ không ảnh hƣởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh đƣợc thuế chồng lên thuế. Theo nghiên cứu và thống kê cuả ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì phần lớn các nƣớc trong đó có cả Việt Nam sau khi áp dụng thuế giá trị gia tăng, giá cả các loại hàng hoá, dịch vụ đều không thay đổi hay chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kể và mức sản xuất của các doanh nghiệp, mức tiêu dùng cuả dân chúng không sút giảm, hay chỉ sút giảm một tỷ lệ nhỏ trong thời gian đầu, kể cả các trƣờng hợp tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với một số mặt hàng trong định kỳ điều chỉnh.
Nhƣ vậy ta có thể kết luận rằng thuế giá trị gia tăng không phải là một nhân tố gây ra lạm phát, gây khó khăn trở ngại cho việc phát triển sản xuất, lƣu thông hàng hoá mà trái lại, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lƣu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu. Chức năng và vai trò của thuế GTGT đối với nền kinh tế quốc dân Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nƣớc đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Thông qua việc ban hành và thực hiện luật thuế, Nhà nƣớc thể chế hoá và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng, tiết kiệm của xã hội. Điều tiết đối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan đối với hoạt động của nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng.
Vai trò này của thuế đƣợc thể hiện ở chỗ là công cụ tác động đến đầu tƣ, lãi suất, tiết kiệm… Thông qua các quy định của thuế Nhà nƣớc tác động đến cung – cầu của nền kinh tế một cách hợp lý nhằm ổn định và tăng trƣởng kinh tế. Chẳng hạn để hạn chế cầu 1 mặt hàng nào đó nhằm bảo vệ sản xuất trong nƣớc, Nhà nƣớc quy định một thuế suất cao đối với hàng hoá đó. Trong điều luận cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trƣờng tất yếu dẫn đến tình trạng khó khăn ở một số doanh nghiệp. Đối với những ngành nghề cần khuyến khích, bảo hộ ngoài những quy định chung, luật thuế còn có các quy định về ƣu đãi, miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái của một số doanh nghiệp, tạo ra sự ổn định và phát triển.
Sự cần thiết phải áp dụng luật thuế GTGT vào Việt Nam Qua đánh giá một cách đúng đắn, đầy đủ, chính xác về thực trạng của thuế doanh thu. Trong quá trình thực hiện thuế doanh thu đã bộc lộ những nhƣợc điểm, hạn chế trên các mặt: - Thuế tính trên toàn bộ doanh thu (bao gồm thuế doanh thu), qua từng khâu lƣu chuyển hàng hoá, từ sản xuất, bán buôn đến bán lẻ, đã ảnh hƣởng không tốt đến giá cả và sản xuất kinh doanh. - Cùng với một mặt hàng nếu đƣợc tổ chức sản xuất và lƣu chuyển qua ít khâu tổng số thuế phải nộp sẽ thấp hơn so với việc tổ chức qua nhiều khâu, không phù hợp với cơ chế thị trƣờng.