Chương 1: cơ sở lý thuyết về hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại.1 khái quát về Ngân Hàng Thương Mại. khái niệm về Ngân Hàng Thương Mại. Theo điều 4, Luật các tổ chức Tín dụng ( hiện hành sửa đổi và bổ sung năm 2017) thì khái niệm Ngân Hàng Thương Mại được định nghĩa như sau: “ Ngân Hàng Thương Mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận” [1] Căn cứ theo định nghĩa trên có thể hiểu Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của nhà nước và pháp luật có ngành nghề hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tài chính, tín dụng. Nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thì cơ bản vẫn là huy động tiền tiết kiệm và cho vay để tái đầu tư.
Bên cạnh đó có thể hiểu hoạt động chính là tiếp nhận tiền nhàn rỗi từ thị trường hay còn gọi là huy động vốn và dùng vốn này làm tín dụng, cung cấp các dịch vụ tài chính đến các chủ thể nền kinh tế vì mục đích lợi nhuận. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại. Trong nền kinh tế thị trường thị ngân hàng thương mại là kênh trung gian về tài chính nên hoạt động cơ bản của ngân hàng là nhận tiền gửi hay còn gọi là huy động vốn và cho vay hay còn gọi là hoạt động tín dụng. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay thì các ngân hàng thương mại hoạt động với ba nhiệm vụ chính : hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và hoạt động trung gian.
Hoạt động huy động vốn tiền gửi của NHTM theo khoản 13, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2017 thì được định nghĩa như sau: “ Nhận tiền gửi hoạt động nhận tiền của các tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi,kì phiếu, tín phiếu và các hình thức SVTH: Phan Quang Duy 6 18030637 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Tăng Minh Hưởng nhận tiền khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”. [1] Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng mang tính sống còn của mỗi ngân hàng hiện nay, bởi đây được xem là nguồn lợi nhuận chính, cũng chính vì vậy hoạt động cho vay cũng ẩn chứa nhiều rủi ro cũng như thách thức trong quá trình thu hồi nợ tồn đọng. Tùy vào tình hình thực tế và nhận định khách quan thì các ngân hàng thương mại sẽ có những hướng đi chiến lược nhằm đáp ứng và phát triển trong hệ thống ngân hàng hiện nay.3 Vai trò của Ngân hàng thương mại. Trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện tại cũng như khi thị trường tiền tệ không ngừng biến đổi thì vai trò của ngân hàng có thể được thể hiện ở những nội dung sau: Ngân hàng thương mại là nơi thu hút nguồn tài chính nhàn rỗi của các tổ chức và cá nhân ngoài thì trường và cung ứng tiền vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng thương mại là trung gian của quá trình thanh toán, góp phần đẩy mạnh quá trình lưu thông hàng hóa và tiền tệ nhanh chóng và linh hoạt hơn. Làm nhiệm vụ điều tiết và kiểm soát thị trường tiền tệ, thị trường vốn. Ngân hàng thương mại góp phần mở rộng đầu tư trong nước và ngoài nước, đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh và thúc đẩy các hoạt động tài chính khác.2 Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại.1 Khái niệm hoạt động cho vay. Theo khoản 16, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 17/2017/QH14 định nghĩa về hoạt động cho vay như sau : “cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [1] Theo Quyết định số 17/2017/QH14, Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2017 thì hoạt động cho vay được định nghĩa như sau: “Cho vay là một hình thức cấp SVTH: Phan Quang Duy 7 18030637 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Tăng Minh Hưởng tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [1] Căn cứ vào đó ta có thể hiểu cho vay là một hoạt động kinh tế chủ yếu của mọi ngân hàng nhằm mục đích cấp tín dụng phục vụ nhu cầu tài chính của các tổ chức, các nhân bằng hình thức cho vay và bên cho vay giao hoặc cam kết cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định theo nguyên tắc và thời hạn đã được thỏa thuận và có sự hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Khái niệm về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân. Khái niệm cho vay đối với khách hàng cá nhân có thể hiểu là việc Ngân hàng giao quyền tạm thời sử dụng vốn cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình với mục đích tiêu dùng, vay mua xe ô tô, vay mua bất động sản, chuyển nhượng nhà đất, căn hộ và các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ cá nhân với những điều kiện bắt buộc đã được thỏa thuận trong hợp đồng giữa các bên bao gồm bên vay và bên cho vay với nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi. Đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân. Hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân là một mảng dịch vụ tài chính hấp dẫn, dẫu vậy việc hoạt động những loại hình dịch vụ ngân hàng trên phân khúc thị trường này không hề dễ dàng bởi vì hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân là hoàn toàn khác biệt nếu so sánh với hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế.
Và điều này được minh chứng cụ thể trên các khía cạnh sau: Thứ nhất về phạm vi, quy mô cho vay đối với khách hàng cá nhân: số lượng những khoản vay là vô cùng lớn tuy nhiên quy mô lại không quá lớn và giá trị những khoản vay thì không quá cao. Bên cạnh đó tần suất của các khoản vay không liên tục và không theo một bất kì một nguyên tắc hay chu kì nhất định nào, nhu cầu về vốn của khách hàng cá nhân thì cũng bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác như : tài chính, kinh tế, văn hóa xã hôi, chính trị, khoa học kĩ thuật. SVTH: Phan Quang Duy 8 18030637 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Tăng Minh Hưởng Thứ hai, về thời gian khoản vay thì phụ thuộc vào mục đích sử dụng, nhu cầu sử dụng tài chính, năng lực thanh toán của khách hàng cá nhân và thỏa thuận giữa hai bên Ngân hàng và khách hàng cá nhân. Theo quy định thì các khoản vay của khách hàng cá nhân bao gồm : ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Thứ ba là tính rủi ro : điều này không thể đảm bảo bởi thu nhập và khả năng tài chính của khách hàng cá nhân là không ổn định, nguồn thu nhập của khách hàng cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nghề nghiệp, tuổi tác và thậm chí là sức khỏe. Chính vì điều đó việc quản lý khách hàng cá nhân cần được giám sát, quản lý và thực hiện hiệu quả chính xác. Thứ tư là phải có tài sản bảo đảm hoặc tài sản có bảo lãnh: các tài sản bảo đảm ( TSBĐ) hoặc tài sản được người thứ ba bảo lãnh sẽ tăng độ tin cậy của khách hàng khi vay vốn và ngân hàng cũng giảm thiểu được các rủi ro trong quá trình cho vay. Khách hàng sẽ được vay với hạn mức cao hơn và lãi suất ưu đãi hơn nếu có tài sản bảo đảm ( vay thế chấp) so với các khoản vay không có tài sản ( vay tín chấp).
Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân.1 Đối với nền kinh tế. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân (KHCN) góp phần duy trì sản xuất liên tục, đầu tư phát triển kinh tế và điều phối cung cầu dịch vụ hàng hóa. Trong đó bao gồm: Cho các cá nhân hộ gia đình, tổ chức kinh doanh vay vốn nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất ổn định, không làm suy giảm hay gián đoạn và đồng thời kích thích sự tăng cường lưu thông hàng hóa thiết yếu trên thị trường tiền tệ. Cho vay tiêu dùng thì người tiêu dùng cá nhân với một mức thu nhập ổn định và phải tích lũy một số tiền lớn trong một khoảng thời gian nếu muốn mua những hàng hóa mình mong muốn tại mọi thời điểm.
Ngân hàng có thể là nơi người tiêu dùng tìm tới mong muốn vay để thỏa mãn nhu cầu hàng hóa tức thì và sẽ hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo nguyên tắc và hợp đồng đã được thỏa thuận, thông qua hoạt động này đã góp phần đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa. SVTH: Phan Quang Duy 9 18030637 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Tăng Minh Hưởng Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân góp phần điều tiết và phân phối lại nguồn vốn. Hoạt động này được hiểu như sau: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hóa, vào một vài thời điểm việc bị tạm dư thừa vốn, ứ đọng vốn ở cá nhân, doanh nghiệp này và thiếu hụt tín dụng ở cá nhân, doanh nghiệp kia là thường xuyên và diễn ra liên tục, nhất là khi giá cả thị trường không ngừng biến động như thời gian vừa qua. Điều này phát sinh yêu cầu cấp bách phải phân phối lại nguồn vốn cho nền kinh tế và NHTM là cầu nối trung gian đứng ra để cân đối lại tiền tệ, điều hoà cung và cầu vốn phục vụ cho KHCN, KHDN để kịp thời giải quyết khó khăn về tài chính.
Từ thực tế đó chúng ta đánh giá hoạt động cho vay KHCN đã giúp cân đối lại nguồn lực tài chính, đảm bảo thuận lợi cho việc phát triển kinh doanh của KHCN không phải gián đoạn và trì trệ. Cơ cấu nền kinh tế thay đổi theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Khách hàng cá nhân khi vay tiền tại NHTM với mục đích chủ yếu là phát triển sản xuất hay tham gia vào các hoạt động kinh doanh thường có tỉ lệ lớn.