Tổng quan nghiên cứu

Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đóng vai trò là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tỉnh Bắc Kạn có diện tích tự nhiên 4.859,41 km² với dân số năm 2019 đạt 314.378 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 86% bao gồm người Tày chiếm 52,93%, người Dao chiếm 17,63% và người Nùng chiếm 9,36%. Dù hạ tầng giao thông có bước phát triển với hơn 3.000 km đường bộ và tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2004-2018 đạt trên 38.000 tỷ đồng, Bắc Kạn vẫn là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước khi còn 2 huyện nghèo thuộc Chương trình 30a cùng 58 xã đặc biệt khó khăn thụ hưởng Chương trình 135.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực tế phong trào khởi nghiệp sáng tạo tại địa phương mới ở giai đoạn sơ khởi, quy mô phân tán và trầm lắng so với mặt bằng chung toàn quốc. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp ứng dụng thiết thực cho giai đoạn 2021-2026.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa bàn tỉnh Bắc Kạn, khai thác chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2017-2019 và dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa vào tháng 11 năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế hỗ trợ doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và khai phóng tiềm năng kinh tế bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết về doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Steve Blank năm 2013 và Central Baltic Springboard năm 2017, xác định doanh nghiệp khởi nghiệp là tổ chức được thành lập nhằm tìm kiếm mô hình kinh doanh có khả năng lặp lại và mở rộng quy mô với tốc độ tăng trưởng cao dựa trên nền tảng công nghệ hoặc giải pháp mới. Luận văn cũng kế thừa mô hình hệ sinh thái khởi nghiệp của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2013 và công trình của Dee năm 2017, bao gồm các thành tố tương hỗ: nguồn nhân lực, nguồn vốn tài chính, khung pháp lý, mạng lưới cố vấn, vườn ươm doanh nghiệp, trường viện và văn hóa kinh doanh.

Khái niệm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được gắn kết với khung pháp lý của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, đồng thời được làm mềm hóa phù hợp với bối cảnh tỉnh miền núi: tính mới không nhất thiết phải là đỉnh cao thế giới mà là tính tiên phong, đột phá so với thị trường địa phương. Khung lý thuyết này bám sát định hướng của Chính phủ tại Đề án 844 về tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, hướng đến mục tiêu quốc gia xây dựng tối thiểu 0,5% doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trên tổng số 1 triệu doanh nghiệp, đồng thời phản ánh quy luật thị trường khi trung bình cứ 10 doanh nghiệp khởi nghiệp thì có tới 9 đơn vị đối mặt nguy cơ thất bại trong những năm đầu.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn triển khai thu thập dữ liệu sơ cấp với quy mô mẫu khảo sát gồm 40 đối tượng đại diện vào tháng 11 năm 2020. Mẫu điều tra bao gồm 03 tổ chức khởi nghiệp sáng tạo tiêu biểu trên địa bàn (01 doanh nghiệp khoa học công nghệ và 02 hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ mới) cùng 37 cán bộ quản lý nhà nước trực tiếp phụ trách công tác hỗ trợ doanh nghiệp (20 cán bộ thuộc Sở Khoa học và Công nghệ, 4 cán bộ thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư, 5 cán bộ Văn phòng Nông thôn mới và Dự án CSSP, 6 cán bộ Tỉnh đoàn Bắc Kạn và 2 cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh).

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích và khảo sát toàn bộ các tác nhân trực tiếp tham gia quản lý, vận hành hệ sinh thái khởi nghiệp địa phương nhằm đảm bảo tính bao quát thực tế. Dữ liệu được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ từ 1,0 điểm đến 5,0 điểm và tổng hợp xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả (tần số, số bình quân, tỷ lệ phần trăm) kết hợp so sánh định lượng chuỗi thời gian 2017-2019 và so sánh không gian giữa các địa phương. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm chuẩn hóa các đánh giá định tính của cán bộ và doanh nhân thành các chỉ số định lượng khách quan, phù hợp với đặc thù quy mô hệ sinh thái khởi nghiệp còn nhỏ hẹp nhưng đòi hỏi chiều sâu chuyên môn cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế phản ánh bức tranh toàn cảnh về hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Bắc Kạn với các kết quả cụ thể:

Thứ nhất, hệ sinh thái khởi nghiệp địa phương còn ở mức phôi thai và thiếu hụt trầm trọng các tổ chức hạt nhân. Trong số các đơn vị đang hoạt động, tác giả chỉ xác định được 03 tổ chức khởi nghiệp đổi mới sáng tạo điển hình gồm 01 doanh nghiệp khoa học công nghệ và 02 hợp tác xã đổi mới sản phẩm chế biến nông lâm sản, chiếm tỷ trọng chưa đầy 0,2% trên tổng số doanh nghiệp thành lập mới hàng năm của tỉnh.

Thứ hai, chính sách hỗ trợ tài chính, tín dụng và thu hút vốn đầu tư nhận được mức đánh giá rất thấp từ cộng đồng khảo sát. Điểm số bình quân đo lường qua thang Likert chỉ đạt mức 2,15/5,0 điểm, phản ánh sự bất cập khi 100% các tổ chức khởi nghiệp sáng tạo không thể tiếp cận vốn vay ngân hàng do thiếu tài sản thế chấp và hồ sơ kinh doanh tiềm ẩn rủi ro cao. Trên địa bàn tỉnh hoàn toàn vắng bóng các quỹ đầu tư mạo hiểm và mạng lưới nhà đầu tư thiên thần.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng công nghệ và vườn ươm tạo doanh nghiệp chưa được thiết lập đồng bộ. Mức độ hài lòng về hạ tầng kỹ thuật chỉ đạt 2,30/5,0 điểm. Toàn tỉnh chưa có một vườn ươm doanh nghiệp đúng nghĩa hoặc không gian làm việc chung chuyên biệt dành cho cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo.

Thứ tư, năng lực nội tại của các chủ thể khởi nghiệp còn nhiều hạn chế về kỹ năng quản trị và thương mại hóa sản phẩm. Mức điểm đánh giá về kiến thức kinh doanh và lập chiến lược thị trường của các nhóm khởi sự kinh doanh chỉ đạt khoảng 2,40/5,0 điểm, xuất phát từ thực trạng hơn 86% dân số là đồng bào thiểu số chưa có nhiều điều kiện tiếp cận các chương trình đào tạo quản trị chuẩn mực.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ điều kiện kinh tế xã hội đặc thù của Bắc Kạn. Mặc dù hệ thống giao thông được nâng cấp với 5 tuyến quốc lộ dài 455,39 km và 13 tuyến đường tỉnh dài 450,29 km, địa hình núi cao chia cắt phức tạp vẫn làm gia tăng chi phí logistics và cản trở kết nối giao thương. Nguồn thu ngân sách địa phương hạn hẹp khiến nguồn vốn sự nghiệp khoa học công nghệ phân bổ cho khởi nghiệp sáng tạo chỉ mang tính chất hỗ trợ nhỏ giọt.

Khi đối chiếu với các địa phương tiên phong, sự chênh lệch thể hiện rất rõ rệt. Thành phố Hà Nội đã ban hành Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐND với mục tiêu hỗ trợ 500 dự án khởi nghiệp sáng tạo và kích hoạt dòng vốn 500 tỷ đồng, còn thành phố Đà Nẵng đã xây dựng thành công Vườn ươm Doanh nghiệp Đà Nẵng (DNES) theo mô hình công tư. Trong khi đó, Bắc Kạn chưa có các cơ chế tài chính linh hoạt để chia sẻ rủi ro cùng doanh nghiệp.

Các phát hiện này có thể được biểu đạt trực quan thông qua biểu đồ thanh ngang phản ánh điểm số Likert trung bình của 7 nhóm tiêu chí hỗ trợ (tín dụng, đào tạo, công nghệ, mặt bằng, kết nối cộng đồng, pháp lý, tư vấn) kết hợp bảng số liệu phân loại cơ cấu nhân khẩu học của 40 đối tượng khảo sát. Dữ liệu này chứng minh rõ nét sự ngắt kết nối giữa nhu cầu thực tế của các nhà sáng lập với năng lực cung ứng dịch vụ hỗ trợ của bộ máy hành chính công.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tạo bước đột phá cho phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Bắc Kạn trong giai đoạn 2021-2026, bốn nhóm giải pháp trọng tâm cần được thực hiện đồng bộ:

Thứ nhất, kiện toàn tổ chức bộ máy và thể chế hóa chính sách ưu đãi. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn cần thành lập Hội đồng điều phối khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cấp tỉnh trong năm 2022, đóng vai trò đầu mối liên kết các sở ngành. Đồng thời, Hội đồng nhân dân tỉnh cần ban hành Nghị quyết chuyên đề hỗ trợ từ 50% đến 100% kinh phí bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, kiểu dáng công nghiệp và kiểm định chất lượng cho các sản phẩm khởi nghiệp sáng tạo bản địa.

Thứ hai, thiết lập vườn ươm doanh nghiệp và không gian hỗ trợ kỹ thuật. Sở Khoa học và Công nghệ cần chủ trì nâng cấp Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ thành vườn ươm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh trong giai đoạn 2022-2024. Mục tiêu cụ thể là hình thành 01 không gian làm việc chung (coworking space) đạt chuẩn, hỗ trợ ươm tạo kỹ thuật cho 15 đến 20 dự án khởi nghiệp tiềm năng trong lĩnh vực nông lâm nghiệp công nghệ cao và dược liệu bản địa.

Thứ ba, tăng cường nguồn lực tài chính và kết nối đầu tư. Tỉnh cần nghiên cứu thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ địa phương, đồng thời tích hợp nguồn lực tài chính từ dự án CSSP và vốn ngân sách để thực hiện cơ chế bù lãi suất vay vốn ngân hàng thương mại cho 100% dự án khởi nghiệp sáng tạo đạt giải cấp tỉnh. Tổng hạn mức vốn ủy thác mục tiêu đạt 10 đến 15 tỷ đồng trong giai đoạn 2023-2025.

Thứ tư, đẩy mạnh đào tạo chuyên sâu và lan tỏa tinh thần doanh nhân. Tỉnh đoàn phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tổ chức tối thiểu 10 khóa tập huấn thực chiến trong giai đoạn 2021-2025, trang bị kỹ năng quản trị dòng tiền, bán hàng đa kênh và phát triển thương hiệu số cho 300 lượt thanh niên, phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số khởi nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn cũng như các tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Công trình cung cấp hệ thống chỉ tiêu khoa học và minh chứng thực chứng để xây dựng các đề án, cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sát hợp với nguồn lực địa phương.

Nhóm thứ hai là các cá nhân, nhóm khởi nghiệp, hợp tác xã và chủ doanh nghiệp trên địa bàn 7 huyện và 1 thành phố của tỉnh Bắc Kạn. Tài liệu giúp các nhà sáng lập nhận diện rõ các chính sách trợ lực công hiện có, lường trước các rào cản về vốn và thị trường, từ đó hoàn thiện mô hình kinh doanh thích ứng với năng lực bản địa.

Nhóm thứ ba là các tổ chức chính trị xã hội và ban điều phối các chương trình dự án như Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, Ban quản lý Chương trình 135 và Dự án CSSP. Luận văn gợi mở cách thức lồng ghép phong trào thanh niên lập nghiệp với việc phát huy tri thức bản địa của hơn 86% đồng bào dân tộc thiểu số, biến sản vật địa phương thành sản phẩm hàng hóa có giá trị gia tăng cao.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thiết kế công cụ điều tra, xử lý thang đo Likert và phân tích chính sách công tại các địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo khác biệt như thế nào so với lập nghiệp truyền thống tại Bắc Kạn?

Lập nghiệp truyền thống tập trung vào mở rộng các mô hình kinh doanh sẵn có như cửa hàng dịch vụ hay xưởng gỗ gia đình với quy mô thị trường hạn hẹp tại địa phương. Ngược lại, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Bắc Kạn đòi hỏi tính đột phá qua việc ứng dụng công nghệ chế biến sâu hoặc mô hình kinh doanh mới từ nguồn tài nguyên bản địa như miến dong hay tinh nghệ, hướng tới thị trường toàn quốc với tiềm năng tăng trưởng doanh thu vượt bậc.

Tại sao quy mô khảo sát của đề tài chỉ chọn 03 tổ chức khởi nghiệp sáng tạo?

Do đặc thù Bắc Kạn là tỉnh miền núi có điều kiện kinh tế còn khó khăn với 2 huyện nghèo 30a, hệ sinh thái khởi nghiệp mới ở giai đoạn sơ khởi nên số lượng doanh nghiệp đáp ứng đúng tiêu chí khởi nghiệp sáng tạo theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 còn rất ít. Việc khảo sát 03 tổ chức đại diện gồm 01 doanh nghiệp khoa học công nghệ và 02 hợp tác xã đổi mới mô hình kinh doanh đã phản ánh trọn vẹn hiện trạng thực tế của tỉnh vào thời điểm năm 2020.

Đâu là rào cản lớn nhất đối với các nhà khởi nghiệp sáng tạo tại Bắc Kạn?

Kết quả khảo sát 40 chuyên gia và doanh nghiệp cho thấy điểm nghẽn lớn nhất nằm ở việc tiếp cận nguồn vốn tài chính, chỉ đạt 2,15/5,0 điểm. Hầu hết các nhà sáng lập thiếu tài sản bảo đảm để vay vốn ngân hàng, trong khi địa phương hoàn toàn chưa hình thành mạng lưới nhà đầu tư thiên thần hay quỹ đầu tư mạo hiểm để hỗ trợ tài chính cho các ý tưởng kinh doanh có độ rủi ro cao.

Luận văn đề xuất giải pháp tài chính cụ thể nào cho các dự án khởi nghiệp?

Nghiên cứu kiến nghị tỉnh sớm thành lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ địa phương, đồng thời trích lập ngân sách ủy thác từ 10 đến 15 tỷ đồng qua Ngân hàng Chính sách xã hội giai đoạn 2023-2025. Nguồn vốn này kết hợp cùng Dự án CSSP sẽ thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất ưu đãi và bảo lãnh tín dụng cho 100% các dự án khởi nghiệp sáng tạo đạt giải tại các cuộc thi cấp tỉnh.

Mô hình hỗ trợ khởi nghiệp từ địa phương nào có thể chuyển giao hiệu quả cho Bắc Kạn?

Bắc Kạn có thể học hỏi trực tiếp cơ chế hỗ trợ của Hà Nội theo Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐND về việc tài trợ 100% kinh phí sở hữu trí tuệ, kết hợp với kinh nghiệm của Sơn La trong việc tổ chức Diễn đàn khởi nghiệp thanh niên Tây Bắc gắn với đào tạo kỹ năng thực chiến. Việc áp dụng linh hoạt các bài học này sẽ giúp Bắc Kạn khơi dậy tinh thần khởi nghiệp từ chính thế mạnh nông lâm sản và văn hóa bản địa độc đáo.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lương Đình Bảo đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 đóng góp cốt lõi:

  • Hệ thống hóa khung lý luận về hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển hóa linh hoạt tiêu chí tính mới phù hợp với thực tiễn tỉnh miền núi nghèo.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng hỗ trợ khởi nghiệp tại Bắc Kạn thông qua bộ số liệu khảo sát 40 đối tượng, chỉ rõ sự non trẻ của hệ sinh thái với vỏn vẹn 03 tổ chức khởi nghiệp sáng tạo tiêu biểu.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn nghiêm trọng nhất về vốn và tín dụng khi điểm số đánh giá chỉ đạt 2,15/5,0 cùng tình trạng thiếu vắng hạ tầng vườn ươm ươm tạo công nghệ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình rõ ràng giai đoạn 2021-2026, gắn kết chặt chẽ với việc khai thác bản sắc văn hóa của hơn 86% đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Đóng góp luận cứ khoa học tin cậy hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước ban hành chính sách đặc thù nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Các cấp chính quyền, cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nhân tỉnh Bắc Kạn cần nhanh chóng bắt tay hiện thực hóa các giải pháp nêu trên trong giai đoạn 2021-2026, đưa khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thực sự trở thành đòn bẩy phát triển kinh tế xã hội bền vững cho quê hương.