Chương 1: Lý luận chung về rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ. Phương thức tín dụng chứng từ (L/C): là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng rộng rãi nhất và ưu việt nhất trong thanh toán quốc tế, chiếm khoảng hơn 70% giá trị thanh toán. Lý do chính ở đây là nó đảm bảo quyền lợi một cách tương đối cho cả người mua và người bán.
Khái niệm về thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ. Thư tín dụng là một cam kết thanh toán của ngân hàng cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C. Do có cách tuỳ ý về cách gọi nên trong thực tế ta thường gặp nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Bằng tiếng Anh: Letter of Credit (L/C) hoặc Documentary Credit (D/C) Bằng tiếng Việt: Tín dụng thư, Thư tín dụng, Tín dụng chứng từ, hoặc sử dụng các từ viết tắt như L/C, D/C.
Cho dù với cách gọi như thế nào thì nó vẫn phải tuân thủ điều 2 của UCP 600. Và từ khái niệm trên ta thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thể được áp dụng trong cả nội thương và ngoại thương. Trong ngoại thương, theo yêu cầu của nhà nhập khẩu một ngân hàng phát hành một L/C cho nhà xuất khẩu hưởng. Nội dung chủ yếu của L/C là sự cam kết của ngân hàng phát hành, theo đó ngân hàng phát hành sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu khi nhà 5 Sinh viên thực hiện: Khương Thanh Tùng Luan van Giải pháp nhằm hạn chể rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ.
xuất khẩu tuân thủ những điều quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để được thanh toán. Thực chất, L/C là một cam kết bằng văn bản của một ngân hàng phát hành được phát hành theo chỉ thị của người mua cho người bán hưởng và có thể thanh toán theo phương thức trả ngay (at sight) hay trả chậm (usance payment) Thuật ngữ "Tín dụng - Credit" ở đây được dùng theo nghĩa rộng tức là "Tín nhiệm", chứ không phải để chỉ "một khoản cho vay" theo nghĩa thông thường. Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp khi người nhập khẩu ký quỹ 100% giá trị của L/C, thực chất ngân hàng phát hành không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào cho người mơ L/C mà chỉ cho người nhập khẩu vay sự tín nhiệm của mình. Ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu không hề ký quỹ thì một khoản tín dụng thực sự chỉ xảy ra khi ngân hàng phát hành tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu và ghi nợ nhà nhập khẩu.
Như vậy, thuật ngữ tín dụng trong phương thức tín dụng chứng từ chỉ thể hiện một khoản "Tín dụng trừu tượng" bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho nhà nhập khẩu bằng vào uy tín của ngân hàng cao hơn nhà nhập khẩu. Qua phân tích cho thấy, trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ mà còn: - Là người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu, đảm bảo cho nhà xuất khẩu nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hoá mà họ đã cung ứng. - Là người đảm bảo cho nhà nhập khẩu nhận được số lượng và chất lượng hàng hoá do bộ chứng từ đại diện và tương ứng với số tiền mà họ đã bỏ ra. 6 Sinh viên thực hiện: Khương Thanh Tùng Luan van Giải pháp nhằm hạn chể rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ.
Nhà nhập khẩu có cơ sở để tin rằng ngân hàng sẽ không trả tiền trước khi nhà xuất khẩu giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà xuất khẩu phải xuất trình bộ chứng từ gửi hàng. Trong khi đó, nhà nhập khẩu tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng xuất khẩu nếu anh ta trao cho ngân hàng phát hành bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp với quy định của L/C. Một cách tổng quát, có thể xem L/C là một sự "bảo lãnh thanh toán có điều kiện" bởi một ngân hàng cho một người thụ hưởng khi người này xuất trình bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C. Hay nói cách khác, L/C là cam kết thanh toán hoặc chấp nhận và thanh toán của ngân hàng phát hành đối với chứng từ xuất trình phù hợp với yêu cầu của L/C.
Trong ngoại thương, người yêu cầu mở L/C là nhà nhập khẩu, còn người thụ hưởng là nhà xuất khẩu. Như vậy, về bản chất L/C là một bức thư do một ngân hàng viết ra theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, cam kết trả cho nhà xuất khẩu một số tiền nhất định, trong một thời hạn nhất định với điều kiện là nhà xuất khẩu phải thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định của L/C. L/C có tính chất quan trọng, nó được hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan.
Điều này hàm ý, khi nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp về mặt hệ thống với những quy định trong L/C thì ngân hàng phát hành phải trả tiền vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hoá không hoàn toàn đúng như đã ghi trên chứng từ, nếu hàng hoá không ghi đúng như trong chứng từ thì 2 bên tự giải quyết với nhau không liên quan đến ngân hàng phát hành. Chỉ trong trường hợp chứng từ không phù hợp với các điều khoản 7 Sinh viên thực hiện: Khương Thanh Tùng Luan van Giải pháp nhằm hạn chể rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ. của L/C mà ngân hàng vẫn thanh toán thì ngân hàng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm và nhà nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán cho ngân hàng phát hành. Như vậy trong giao dịch L/C tất cả các bên tham gia chỉ căn cứ vào chứng từ mà không căn cứ vào hàng hoá.
Trong thực tế một số nhà nhập khẩu có thể sử dụng L/C như là một công cụ dự phòng để cụ thể hàng hoá, chi tiết hàng hoá hoặc bổ sung những điều khoản mà hợp đồng ngoại thương còn sót, ngoài ra còn để đính chính, sửa chữa những nội dung bất lợi trong hợp đồng ngoại thương đã ký. Nhưng việc này chỉ tránh được việc phải mở một L/C cho nhà xuất khẩu hưởng còn nhà xuất khẩu có thể kiện nhà nhập khẩu ra toà trên cơ sở các điều khoản của hợp đồng thương mại. Theo công dụng của L/C. * L/C có thể huỷ ngang (Revocable letter of credit): là loại L/C có thể bị sửa đổi hoặc huỷ bỏ mà không cần thông báo cho người hưởng lợi.
Nó chứa đựng những rủi ro đối với người bán vì việc sửa đổi hoặc huỷ L/C có thể xảy ra khi hàng hoá đang trên đường vận chuyển hoặc trước khi việc thanh toán được thực hiện. L/c huỷ ngang tạo cho người mua tối đa sự chủ động vì nó có thể được sửa đổi hoặc huỷ ngang mà không cần thông báo cho người bán. Vì vậy L/C huỷ ngang chỉ có thể sử dụng trong các trường hợp: o Việc giao hàng thực hiện giữa công ty mẹ và công ty con o Giữa người mua và người bán có quan hệ rất tốt. * L/C không thể huỷ ngang (Irrevocable letter of credit): Là loại L/C sau khi đã được ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu không có sự thoả thuận của các bên tham gia.
L/C không huỷ ngang đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia, nên nó được sử dụng rộng rãi. 8 Sinh viên thực hiện: Khương Thanh Tùng Luan van Giải pháp nhằm hạn chể rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ. Quy trình nghiệp vụ L/C không thể huỷ ngang Hợp đồng ngoại thương Nhà Xuất Nhà nhập khẩu khẩu 3.từ + hối phiếu 6. L/C xin toán mở toán L/C 2.
L/C Ngân hàng thông Ngân hàng phát báo/ Ngân hàng 5. từ +hối phiếu+ thư đòi tiền hành trả tiền 8. Thanh toán * Thư tín dụng xác nhận (confirming L/C): là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được một ngân hàng khác xác nhận, điều đó có nghĩa là ngoài cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành L/C còn có thêm sự cam kết của ngân hàng xác nhận. Ngân hàng xác nhận có thể là ngân hàng thông báo hoặc là một ngân hàng thứ 3 tuỳ theo thoả thuận giữa người mua, người bán và ngân hàng phát hành L/C.
Trong thực tế việc yêu cầu xác nhận L/C không xuất phát từ mong muốn của người mở L/C mà xuất phát từ yêu cầu của người hưởng lợi khi họ nghi ngờ khả năng thanh toán và uy tín của ngân hàng phát hành L/C hoặc họ lo lắng về tình hình an ninh chính trị của nước người nhập khẩu. Khi ngân hàng xác nhận đã thanh toán cho người hưởng theo đúng quy định của L/C nó có quyền truy đòi số tiền thanh toán từ ngân hàng phát hành. Để đảm bảo an toàn, ngân hàng xác nhận có thể yêy cầu ngân hàng phát hành ký quỹ theo một tỷ lệ nhất định. Ngược lại, để đảm bảo quyền lợi của mình, ngân hàng phát hành sẽ thoả thuận với khách hàng để 9 Sinh viên thực hiện: Khương Thanh Tùng Luan van Giải pháp nhằm hạn chể rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ.
chọn ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu làm ngân hàng xác nhận, tránh những rủi ro về vốn ký quỹ tại ngân hàng xác nhận. L/C này, người hưởng lợi được đảm bảo chắc chắn của ngân hàng xác nhận, cộng thêm vào sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C, người hưởng lợi sẽ được ngân hàng các nhận thanh toán miễn truy đòi nếu xuất trình chứng từ phù hợp, ngay cả trong trường hợp ngân hàng phát hành không thanh toán được, người thụ hưởng cũng tránh được cả những rủi ro về ngoại hối hay rủi ro quốc gia khác của ngân hàng phát hành L/C. Quy trình nghiệp vụ của L/C xác nhận. Hợp đồng ngoại thương Nhà xuất Nhà nhập khẩu khẩu 4.từ + hối phiếu 7.
Thanh Thanh toán toán 2.