CHƯƠNG 1 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm thanh toán quốc tế. Thanh toán quốc tế (TTQT) là sự chi trả bằng tiền (ngoại tệ) liên quan tới hàng hoá, dịch vụ, tư bản của cá nhân, tổ chức, Chính phủ nước này đối với đối tác của mình trên thế giới. TTQT chính là khâu cuối cùng để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại thông qua các hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại ngân hàng.
Dưới giác độ kinh tế, các quan hệ quốc tế được chia thành hai loại : quan hệ mậu dịch và quan hệ phi mậu dịch. Do đó, thanh toán quốc tế cũng bao gồm thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch. Thanh toán mậu dịch. Thanh toán mậu dịch phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại theo giá cả quốc tế.
Thông thường, trong thanh toán mậu dịch phải có chứng từ hàng hoá kèm theo. Các bên mua bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thương mại hoặc một hình thức cam kết khác (thư, điện giao dịch…). Mỗi hợp đồng chỉ ra một mối quan hệ nhất định, nội dung hợp đồng phải qui định rõ cách thức thanh toán dịch vụ thương mại, hàng hoá nhất định. Thanh toán phi mậu dịch.
Là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng hoá cũng như lao vụ, nó mang tính chất thương mại. Đó là chi phí của các cơ quan ngoại giao, ngoại thương ở nước sở tại, chi phí về đi lại của các đoàn khách, các tổ chức hay cá nhân… Thanh toán phi mậu dịch ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn trong hoạt động TTQT đặc biệt là trong hoạt động thanh toán chuyển kiều hối khi lượng kiều bào của mỗi quốc gia ngày càng gia tăng. Ngoài hai loại thanh toán nêu trên, trong TTQT còn có thanh toán vay nợ, viện trợ. Thực chất loại thanh toán này cũng là thanh toán mậu dịch nhưng chỉ khác là ở nguồn vốn.
Thanh toán mậu dịch được thực hiện bằng vốn tự có, còn thanh toán vay nợ hay viện trợ do nước ngoài cấp vốn. Ngày nay, hình 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức thanh toán này chiếm một tỷ trọng khá lớn nhất là ở các nước bắt đầu phát triển hay các nước đang phát triển để thanh toán các khoản nợ, khoản viện trợ tới kỳ hạn hoàn trả của quốc gia. Về cơ bản TTQT phát sinh trên cơ sở hoạt động thương mại quốc tế. Khi đề cập đến hoạt động thương mại quốc tế là đề cập đến quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá giữa các nước.
TTQT là khâu cuối cùng của một quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, do vậy nếu công tác thanh toán quốc tế được tổ chức tốt thì giá trị hàng xuất khẩu mới được thực hiện, góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. TTQT trở thành một yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại. Thanh toán quốc tế thực sự phức tạp, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, tỷ giá hối đoái biến động liên tục, vì vậy yêu cầu đặt ra cho công tác thanh toán quốc tế là đảm bảo an toàn cho các hợp đồng nhập khẩu, các khoản doanh thu hàng xuất khẩu thu về một cách kịp thời, chính xác, an toàn. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang tiến hành sự nghiệp xây dựng đất nước.Thông qua hoạt động TTQT , chúng ta có thể tận dụng được vốn, công nghệ nước ngoài để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu và đưa nền kinh tế đất nước hoà nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới.
Hoạt động TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hoà dịch vụ giữa các tổ chức cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Hoạt động TTQT của các ngân hàng ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng, nó là công cụ, là cầu nối trong quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ kinh tế và thương mại giữa các nước trên thế giới. Hoạt động TTQT giúp cho doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu. Do vị trí địa lý của các bạn hàng thường cách xa nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng tài chính, khả năng của người mua, của bên nợ, đồng thời trong điều kiện thị trường thường xuyên 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biến động, khả năng thanh toán của bên nợ bấp bênh, hơn nữa trong nền kinh tế thị trường tình trạng lừa đảo ngày càng tăng nên rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng xuất hập khẩu ngày càng nhiều.
Tổ chức tốt hoạt động thanh toán quốc tế sẽ giúp các nhà xuất khẩu hạn chế được rủi ro trong quá trình kinh doanh, nhờ đó sẽ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển. Đối với ngân hàng thương mại, việc mở rộng thanh toán quốc tế có vị trí và vai trò hết sức quan trọng, đây không phải là một dịch vụ thuần tuý mà còn được coi là một dịch vụ không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó bổ sung và hỗ trợ cho các hoạt động khác phát triển. Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho ngân hàng thu hút thêm khách hàng có nhu cầu giao dịch kinh doanh quốc tế. Trên cơ sở đó ngân hàng phát trển được các dịch vụ như huy động vốn ngoại tệ, đẩy mạnh hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ khác, nhờ đó qui mô hoạt dộng của ngân hàng ngày càng lớn.
Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh đối ngoại giúp cho ngân hàng nâng cao uy tín và ngày tạo một niềm tin vững chắc cho khách hàng. Tóm lại, trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, trong xu thế toàn cầu hoá, hoạt động TTQT có vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần tăng thu nhập, uy tín và khẳ năng cạnh tranh cho ngân hàng. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng và phát triển, các phương thức thanh toán quốc tế cũng ngày càng đa dạng và phong phú, nhằm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về thanh toán cho khách hàng.
Mỗi phương thức thanh toán có những ưu nhược điểm khác nhau, hiện nay một số phương thức được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế gồm: 1. Phương thức chuyển tiền Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán quốc tế mà khách hàng (người trả tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm, trong một thời gian nhất định bằng phương thức chuyển tiền theo yêu cầu khách hàng. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Trường hợp áp dụng thanh toán chuyển tiền - Hai bên có quan hệ lâu năm và tín nhiệm lẫn nhau - Thanh toán trong phi mậu dịch, chuyển vốn ra nước ngoài đầu tư, chuyển lợi nhuận về nước, chuyển kiều hối. Ưu nhược điểm - Ưu điểm: Là phương tiện đơn giản, thuận tiện, thanh toán trực tiếp giữa bên mua và bên bán, ngân hàng chỉ giữ vai trò trung gian.
- Nhược điểm: Việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của người mua, bên bán dễ bị chiếm dụng vốn trong thanh toán. Phương thức này thường chỉ sử dụng trong lĩnh vực phi mậu dịch và thanh toán trong lĩnh vực thương mại, các chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá (phí vận chuyển, bảo hiểm…) Quy trình thanh toán nghiệp vụ theo phương thức trả tiền Ngân hàng chuyển tiền (1) (4) Ngân hàng đại lý (3) (2) (5) (1) Người nhập khẩu Người xuất khẩu (1): Sau khi ký kết hợp đồng ngoại thương, người xuất khẩu thực hiện cung ứng hàng hoá, dịch vụ và giao toàn bộ chứng từ hàng hoá cho bên nhập khẩu. (2): Người nhập khẩu sau khi kiểm tra chứng từ hoá đơn, lập lệnh chuyển tiền, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển tiền cho người hưởng lợi. (3): Ngân hàng chuyển tiền tiến hành kiểm tra nếu thấy hợp lệ và đủ khả năng thanh toán sẽ trích tài khoản của người nhập khẩu để chuyển tiền và gửi giấy báo nợ cho người nhập khẩu.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (4): Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài chuyển tiền cho người xuất khẩu. (5): Ngân hàng đại lý ghi có và báo có cho người xuất khẩu. Phương thức nhờ thu Phương thức nhờ thu được thực hiện trên cơ sở những qui định của nguyên tắc thống nhất nhờ thu số 522 của phòng thương mại quốc tế sửa đổi năm 1995 có hiệu lực từ 1/1/1996 (Uniform Rulers of the Collection, 1995 Revision No 522, ICC). Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ tiến hành uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người nhập khẩu dựa trên cơ sở hối phiếu do người xuất khẩu lập ra.
Phương thức nhờ thu bao gồm: a/. Nhờ thu phiếu trơn: Là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra còn chứng từ gửi hàng thì gửi thẳng cho người mua không thông qua ngân hàng. * Phương thức nhờ thu phiếu trơn thường chỉ áp dụng trong trường hợp người mua và người bán tin cậy lẫn nhau hoặc là phải có quan hệ liên doanh với nhau giữa công ty mẹ, công ty con hoặc là chi nhánh của nhau. Thanh toán về các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá vì việc thanh toán này không nhất thiết phải kèm theo chứng từ như cước phí vận tải, bảo hiểm bồi thường,… * Nhược điểm: Phương thức này không được áp dụng nhiều trong thanh toán về mậu dịch vì: - Đối với người bán: Không đảm bảo quyền lợi cho họ, vì việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, do đó người mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc trả tiền chậm trễ.