CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NHTM 1. Khái niệm, đặc điểm hộ kinh doanh a. Khái niệm Cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế nước ta đó có những chuyển biến sâu sắc, căn bản và toàn diện.
Với sự khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước đã tạo động lực lớn cho sự phát triển KT-XH. Cùng với sự ra đời và phát triển của nhiều loại hình kinh tế khác, lúc này kinh tế hộ kinh doanh mới thực sự khẳng định được mình. Sự phát triển của kinh tế hộ kinh doanh đã mang lại những kết quả to lớn cho nền kinh tế nói chung và khu vực nông nghiệp nông thôn nói riêng. Trong tình hình thực tế hiện nay, hộ kinh doanh là đơn vị kinh tế chủ yếu cung cấp các sản phẩm tiêu dùng cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Do đó phát triển kinh tế hộ kinh doanh là yêu cầu cấn thiết trong giai đoạn phát triển kinh tế trước mắt và trong tương lai. Với mô hình “Hộ kinh doanh tự chịu trách nhiệm” thì khái niệm về hộ kinh doanh như sau: “Hộ kinh doanh là một nhóm người có cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, họ sống chung trong một mái nhà có chung nguồn thu nhập, cùng tiến hành sản xuất, kinh doanh, cùng hưởng những sản phẩm làm ra và cùng chịu hậu quả và trách nhiệm rủi ro đem lại.” Tuy nhiên, khái niệm về hộ kinh doanh vẫn chưa được định nghĩa cụ thể, hầu hết đều mặc nhiên thừa nhận hộ kinh doanh là hộ gia đình làm kinh tế. 8 Theo điều 106, Bộ luật Dân sự thì hộ gia đình được định nghĩa: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”. Về phía ngân hàng “Hộ kinh doanh” là một thuật ngữ được dùng trong các hoạt động cung ứng vốn tín dụng cho hộ gia đình để làm kinh tế chung cho cả hộ.
Việc đi sâu nghiên cứu về kinh tế hộ kinh doanh nhằm xác định rõ đối tượng sử dụng vốn, để đầu tư vốn có hiệu quả, hướng cho người vay vốn sử dụng đúng mục đích. Như vậy, hộ kinh doanh là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh, tự tổ chức hoạt động kinh doanh và tự chủ trong quản lý và tiêu thụ sản phẩm. Chủ hộ là đại diện của hộ kinh doanh trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Chủ hộ có thể ủy quyền cho các thành viên khác đó thành viên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự.
Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ kinh doanh xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ kinh doanh. Tài sản chung của hộ kinh doanh gồm tài sản do các thành viên cùng nhau tạo lập lên hoặc được tặng cho chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ. Hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm dân sự về thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập thực hiện nhân danh hộ kinh doanh. Hộ chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ.
Nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình. Nói tóm lại, hộ kinh doanh ở nước ta chủ yếu được tổ chức dưới mô hình 9 kinh tế gia đình, cùng tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh và là chủ thể kinh tế độc lập, tự chịu trách nhiệm về tài chính, là chủ thể có năng lực pháp lý, chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. Đặc điểm - Về nhân lực: Hộ kinh doanh chủ yếu sử dụng nguồn lực tự có với quy mô gia đình. Tuy nhiên khi cần họ cũng có thể thuê them lao động để mở rộng kinh doanh.
- Về ngành nghề: Hộ kinh doanh hoạt động kinh doanh trên rất nhiều lĩnh vực với nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú. Bao gồm sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thậm chí có hộ còn tham gia sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cơ bản. Tuy nhiên hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là chủ yếu. - Về quy mô sản xuất: Hộ kinh doanh thường hoạt động với quy mô nhỏ, tức là quy mô gia đình và trang trại là chủ yếu.
Do điều kiện về nguồn, khả năng quản lý, sức cạnh tranh trên thị trường … nên hộ kinh doanh rất khó mở rộng quy mô. - Về năng lực quản lý: Khả năng quản lý của hộ còn rất nhiều hạn chế. Khả năng quản lý và tổ chức kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm được tích lũy trong cuộc sống. Khái niệm, hình thức, đặc điểm cho vay hộ kinh doanh a.
Khái niệm Ngân hàng là một doanh nghiệp, hoạt dộng trong lĩnh vực tiền tệ, để có thể duy trì và phát triển hoạt dộng của mình thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng phải có lãi. Hoạt động chủ yếu của một ngân hàng thương mại là huy động vốn và nghiệp vụ tín dụng nhằm tìm kiếm lợi nhuận, trong đó có nghiệp vụ cho vay các thành phần kinh tế trong xã hội. Theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng của ngân hàng Nhà nước Việt 10 Nam (ban ngành theo quuết dịnh số 1627/2001/QĐ - NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng nhà nước) cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo đó, cho vay hộ kinh doanh chính là một hình thức mà ngân hàng cấp vốn cho hộ sản xuất sử dụng vào mục đích kinh doanh trong một thời gian nhất định theo sự thoả thuận giữa ngân hàng và hộ sản xuất với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Đối tượng của cho vay hộ kinh doanh là các hộ gia đình, đây là một thành phần kinh tế quan trọng trong nền kinh tế nhiều thành phần. Các hộ kinh doanh thường không có đủ vốn để tiến hành phương án sản xuất kinh doanh của mình, mỗi khi dự định sản xuất thì các hộ đều có nhu cầu vay vốn. Thời gian trước khi chưa có sự xuất hiện của các tổ chức tín dụng thì các hộ thường phải vay nặng lãi làm ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động sản xuất, sản xuất không mang lại lợi nhuận đáng kể cho các hộ. Từ khi có sự phát triển của hệ thống các tổ chức tín dụng đặc biệt là hệ thống ngân hàng thì các hộ sản xuất đã có thể tiếp cận được với nguồn vốn thích hợp với khả năng của mình và hoạt động sản xuất của hộ đem lại lợi nhuận cao hơn, từ đó kinh tế hộ sản xuất dần dần phát triển.
Phân loại cho vay đối với hộ kinh doanh * Theo hình thức cho vay: - Cho vay trực tiếp hộ kinh doanh: Cho vay trực tiếp là phương thức cho vay mà ở đây ngân hàng sẽ trực tiếp cho hộ kinh doanh vay vốn, hộ kinh doanh trực tiếp nhận vốn vay từ ngân hàng, từ đầu đến cuối quá trình vay chỉ phát sinh một khoản vay của hộ kinh doanh với ngân hàng. Đây là phương thức vay phổ biến nhất và quan trọng nhất tại các ngân hàng áp dụng trong 11 cho vay đối với các hộ kinh doanh. - Cho vay gián tiếp hộ kinh doanh: Cho vay gián tiếp là phương thức cho vay ngân hàng thông qua các tổ chức trung gian để chuyển vốn vay đến hộ kinh doanh, nhằm làm tăng kênh phân phối vốn cho hộ sản xuất. Các tổ thức trung gian có thể là tổ chức tài chính như: Hợp tác xã tín dụng, ngân hàng cổ phần, quỹ tín dụng.
Có thể là các tổ chức kinh tế như Hợp tác xã sản xuất, các doanh ngiệp nhà nước. Các tổ chức xã hội như Hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh, hội thanh niên, hội làm vườn. Đối tượng vay vốn của các tổ chức trung gian này thường là hộ nghèo, thiếu vốn sản xuất nhưng không đủ tài sản làm bảo đảm, họ có sức lao động, có kế hoạch sản xuất khả thi, phù hợp với chính sách phát triển của địa phương. Phương thức cho vay này tạo điều kiện cho các hộ sản xuất được vay vốn để phát triển sản xuất, thay đổi đời sống của từng hộ nghèo, góp phần phát triển kinh tế địa phương.
Đồng thời ngân hàng thực hiện được trách nhiệm với nhà nước là xoá đói, giảm nghèo tạo sự phát triển đồng đều trong sản xuất nông nghiệp và nông thôn. Cho vay thông qua tổ chức kinh tế xã hội thực chất là cho hộ kinh doanh vay bằng tín chấp, bằng uy tín của các tổ chức đứng ra trung gian. Mặc dù cho vay như vậy sẽ giảm chi phí tín dụng cho ngân hàng cho vay được với đối khối tài sản đảm bảo, do đó rủi ro trong hoạt động cho vay này cao, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng. * Theo thời hạn cho vay: - Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay với thời hạn dưới 12 tháng nhằm bổ sung nhu cầu vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh.
- Cho vay trung hạn: là hình thức cho vay với thời hạn từ 1 đến 5 năm. - Cho vay dài hạn: là hình thức cho vay với thời hạn trên 5 năm. Cho vay trung, dài hạn nhằm đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, mở rộng, 12 khôi phục, thay thế tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất… * Theo hình thức đảm bảo: - Cho vay có tài sản đảm bảo: hiện nay TSĐB của hộ kinh doanh được chấp nhận gồm tài sản thuộc sở hữu của hộ kinh doanh, TSĐB hình thành từ vốn vay hoặc TSĐB của bên thứ ba. tài sản phải được phép giao dịch mua bán; tài sản không thuộc diện tranh chấp và phải mua bảo hiểm theo quy định của pháp luật.