Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự phát triển của các làng nghề truyền thống tại khu vực nông thôn Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất tại các làng nghề phần lớn mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, công nghệ thô sơ, chưa có hệ thống hạ tầng xử lý chất thải đồng bộ, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Theo các số liệu điều tra tổng quan được tác giả trích dẫn, trong số 52 làng nghề điển hình trên cả nước, có tới 46% số làng nghề bị ô nhiễm môi trường nặng, 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ; trong đó 100% mẫu nước thải khảo sát đều có thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép.

Làng nghề bún làng Mẽ (thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) là làng nghề truyền thống có lịch sử hình thành và phát triển trên 100 năm, nổi tiếng tại địa phương và các tỉnh lân cận. Hiện nay, làng có khoảng 200 đến 210 hộ tham gia sản xuất và kinh doanh bún, cung cấp ra thị trường khoảng 40 tấn bún mỗi ngày. Mặc dù nhiều hộ gia đình đã đầu tư máy móc hiện đại nhằm nâng cao năng suất và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, công đoạn xử lý chất thải sau sản xuất vẫn chưa được đầu tư. Nước thải phát sinh từ các công đoạn ngâm gạo, nghiền bột, luộc bún và làm nguội chứa hàm lượng tinh bột và chất hữu cơ rất cao, nhưng toàn bộ đều được xả thẳng trực tiếp vào hệ thống mương chung của làng mà không qua bất kỳ công trình xử lý nào. Nguồn thải này gây ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng, bốc mùi hôi thối, làm suy thoái chất lượng nước mặt và đe dọa nguồn nước ngầm trong khu vực. Trước thực trạng đó, đề tài "Nghiên cứu hiện trạng chất lượng môi trường nước và đề xuất phương pháp giảm thiểu ô nhiễm nước tại làng nghề sản xuất bún làng Mẽ thị trấn Hưng Nhân Hưng Hà Thái Bình" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Đề tài góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống và bảo vệ nguồn nước tại làng nghề sản xuất bún làng Mẽ, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá hiện trạng môi trường cũng như thực trạng nước thải sản xuất bún tại làng nghề bún làng Mẽ.
    • Đề xuất các phương pháp giảm thiểu ô nhiễm và mô hình xử lý nước thải sản xuất bún phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nước thải từ hoạt động sản xuất bún và môi trường nước mặt, nước ngầm tiếp nhận chất thải tại khu vực làng nghề.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian nghiên cứu thực địa giới hạn tại địa bàn làng Mẽ, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Thời gian thu mẫu hiện trường tập trung vào ngày 05 tháng 03 năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các định nghĩa, quy định pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:

  • Căn cứ pháp lý và khái niệm: Định nghĩa về môi trường và ô nhiễm môi trường theo Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường ngày 23/06/2014; định nghĩa nước thải theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5980-1995 và tiêu chuẩn quốc tế ISO 6107/1-1980; định nghĩa về làng nghề truyền thống và phân loại làng nghề theo các công trình của TS. Phạm Côn Sơn và TS. Dương Bá Phượng.
  • Quy chuẩn kỹ thuật áp dụng: Đánh giá chất lượng nước thải và nguồn tiếp nhận thông qua việc đối chiếu với QCVN 40:2011/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp, áp dụng công thức tính giá trị tối đa cho phép $C_{max} = C \times K_q \times K_f$), QCVN 40-MT:2015/BTNMT, và QCVN 08:2015/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt).
  • Các thông số đánh giá chất lượng nước: Tập trung vào các chỉ tiêu vật lý, hóa học và sinh học gồm: pH, nhiệt độ, độ đục, oxy hòa tan (DO), tổng chất rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), nhu cầu oxy hóa học (COD), amoni ($NH_4^+$), photphat ($PO_4^{3-}$), sắt ($Fe^{2+}/Fe^{3+}$), mangan ($Mn^{2+}$), và vi sinh vật chỉ thị (Coliform).

Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và nội nghiệp được triển khai đồng bộ:

  1. Phương pháp kế thừa số liệu: Thu thập có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ UBND thị trấn Hưng Nhân, các báo cáo đề tài khoa học liên quan đến nước thải chế biến nông sản thực phẩm (đề tài KC 08-09).
  2. Phương pháp điều tra, khảo sát hiện trường và phỏng vấn:
    • Khảo sát thực địa tuyến mương xả thải và hệ thống ao hồ xung quanh để xác định các nguồn xả và điểm ô nhiễm.
    • Điều tra bằng phiếu hỏi với tổng số 50 phiếu, phân bổ gồm: 30 phiếu dành cho các hộ trực tiếp sản xuất, chế biến bún (về công nghệ, nguyên liệu, sản lượng, nước tiêu thụ) và 20 phiếu dành cho các hộ dân sinh sống lân cận (về công tác thu gom, quản lý rác thải và mức độ ảnh hưởng đến đời sống).
  3. Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu:
    • Tiến hành thu thập tổng cộng 16 mẫu vào ngày 05/03/2017, bao gồm: 01 mẫu nước thải sản xuất ($NT$) lấy tại cơ sở hộ cô Hạnh (buổi chiều từ 14h - 16h); 08 mẫu nước mặt ($NM1$ đến $NM8$) tại hệ thống mương thải và ao tiếp nhận (buổi sáng từ 8h - 10h); 07 mẫu nước ngầm ($NN1$ đến $NN7$) tại các giếng khu vực lân cận.
    • Vị trí lấy mẫu được xác định tọa độ bằng máy định vị GPS. Thể tích mẫu lấy là 1 lít/điểm, chứa trong bình polyetylen 500ml đã tráng rửa, nắp kín dưới mặt nước 30-40cm để tránh oxy xâm nhập, bảo quản lạnh trong thùng xốp chứa đá theo TCVN 5993-1995 trước khi chuyển về phòng thí nghiệm.
  4. Phương pháp đo nhanh và phân tích phòng thí nghiệm:
    • Đo nhanh tại hiện trường: Xác định pH bằng máy đo cầm tay, nhiệt độ bằng nhiệt kế, nồng độ oxy hòa tan (DO) bằng máy Dissolved Oxygen Meter.
    • Phân tích phòng thí nghiệm (tại Trung tâm thí nghiệm thực hành - Trường Đại học Lâm nghiệp):
      • TSS: Phương pháp trọng lượng, sấy cặn trên giấy lọc ở 150°C đến khối lượng không đổi, cân trên cân phân tích sai số $\pm 0,1$ mg.
      • BOD5: Phương pháp cấy và pha loãng mẫu với nước pha chuẩn (chứa đệm photphat pH 7,2, $CaCl_2$, $MgSO_4$, $FeCl_3$), sục khí $DO \ge 8$ mg/l, ủ kín trong tủ 5 ngày ở 20°C, tính toán độ suy giảm DO giữa ngày 0 và ngày 5.
      • COD: Phương pháp oxy hóa hóa học bằng $K_2Cr_2O_7$ trong môi trường axit mạnh $H_2SO_4$, xúc tác $Ag_2SO_4$, đun hồi lưu 2 giờ ở 150°C, chuẩn độ lượng dư dicromat bằng muối Mohr ($Fe(NH_4)_2(SO_4)_2$) với chất chỉ thị Feroin.
      • Amoni ($NH_4^+$): Phương pháp so màu quang phổ kế UV-VIS bằng thuốc thử Nessler trong môi trường kiềm, khử cản trở ion canxi/magie bằng muối Seignette.
      • Photphat ($PO_4^{3-}$): Phương pháp so màu phức chất xanh phốt pho molypđen ở bước sóng 880 nm.
      • Sắt ($Fe^{2+}/Fe^{3+}$) và Mangan ($Mn^{2+}$): Phương pháp so màu quang điện trên máy UV-VIS Spectro II ở bước sóng 430 nm và 509 nm.
  5. Phương pháp nội nghiệp: Xử lý, thống kê và vẽ đồ thị số liệu phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel; so sánh đối chiếu với các quy chuẩn Việt Nam để tính toán tải lượng ô nhiễm và tính toán thông số kỹ thuật cho các công trình xử lý nước thải đề xuất.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương I tổng hợp cơ sở lý luận về môi trường, phân loại nước thải và đặc trưng nước thải của các nhóm ngành nghề. Tác giả phân tích chi tiết các chỉ tiêu ô nhiễm lý hóa học và sinh học ($pH$, $TSS$, $DO$, $BOD$, $COD$, $N$, $P$, $E. coli$). Phân tích tổng quan thực trạng 5 loại hình làng nghề chính tại Việt Nam (chế biến nông sản thực phẩm, vật liệu xây dựng - gốm sứ, tái chế chất thải, dệt nhuộm, thủ công mỹ nghệ), chỉ ra rằng ngành chế biến thực phẩm có lượng nước thải lớn, giàu hữu cơ và dễ phân hủy kỵ khí gây ô nhiễm cả nước mặt lẫn nước ngầm.

Chương này cũng giới thiệu chi tiết về lịch sử hình thành hơn một thế kỷ của làng nghề bún Mẽ, nơi có gần 200 hộ sản xuất, giải quyết việc làm cho 5 - 7 lao động/hộ với mức thu nhập 4 - 5 triệu đồng/người/tháng. Tác giả phân tích bước chuyển đổi từ quy trình làm bún thủ công cổ truyền 13 công đoạn kéo dài 7 ngày (với các bí quyết ngâm bột nửa tháng) sang giai đoạn cơ giới hóa bằng máy xay bột, máy đánh bột và máy ép liên hoàn, giúp rút ngắn thời gian và tăng năng suất gấp 10 - 20 lần nhưng cũng làm gia tăng đột biến lượng nước thải xả ra hàng ngày.

Chương II: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương II trình bày cụ thể hệ thống mục tiêu, xác định rõ đối tượng nghiên cứu là nước thải sản xuất bún làng Mẽ. Tác giả chi tiết hóa 4 nội dung nghiên cứu lớn bao gồm:

  1. Khảo sát công nghệ, quy mô và quy trình sản xuất;
  2. Đánh giá nguồn phát sinh và phân tích đặc tính lý hóa của nước thải;
  3. Khảo sát hiện trạng công tác quản lý, thu gom và xả thải tại địa phương;
  4. Tính toán, đề xuất giải pháp và mô hình công nghệ xử lý nước thải.

Toàn bộ quy trình ngoại nghiệp được chuẩn hóa với bản đồ vị trí 16 điểm lấy mẫu có tọa độ GPS chi tiết (mẫu nước thải $NT$, các mẫu nước mặt $NM1 - NM8$, mẫu nước ngầm $NN1 - NN7$). Chương này mô tả tường tận các quy trình phân tích tiêu chuẩn trong phòng thí nghiệm cho 8 thông số ô nhiễm chính kèm theo các công thức tính toán và quy chuẩn môi trường áp dụng ($QCVN\ 40:2011/BTNMT$ và $QCVN\ 08:2015/BTNMT$).

Chương III: Điều kiện tự nhiên – Kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Chương III phân tích các yếu tố vị trí địa lý, tự nhiên và kinh tế - xã hội của làng Mẽ, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cách trung tâm thành phố Thái Bình 30 km, tiếp giáp Hưng Yên, Hà Nam, Vũ Thư, Quỳnh Phụ, Đông Hưng). Khu vực nằm trên vùng đồng bằng sông Hồng có địa hình bằng phẳng, đất phù sa màu mỡ, hệ thống ao hồ chiếm 8% diện tích tự nhiên, mạng lưới sông ngòi dày đặc.

Khí hậu mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa Bắc Bộ, nhiệt độ trung bình mùa nóng 29°C, mùa đông 15,2°C, lượng mưa trung bình năm 1600 - 1800 mm, tổng số giờ nắng 1300 - 1400 giờ/năm. Về kinh tế - xã hội, toàn làng có khoảng 260 hộ dân với 200 hộ làm nghề bún, cơ cấu kinh tế thị trấn tăng trưởng 10 - 12%/năm. Sự phát triển sản xuất quy mô lớn đem lại nguồn thu nhập chính nhưng áp lực chất thải đè nặng lên hệ thống thủy văn ao hồ tự nhiên.

Chương IV: Kết quả nghiên cứu

Chương IV trình bày các kết quả khảo sát và phân tích thực nghiệm:

  • Quy trình sản xuất bún: Sơ đồ hóa chuỗi công nghệ qua các công đoạn: Chọn gạo tẻ (tạp chất $<0,1%$) $\rightarrow$ Vo sạch, ngâm nước 3 giờ $\rightarrow$ Nghiền ướt qua lưới lọc $2.400\ \text{lỗ/cm}^2$ $\rightarrow$ Loại bỏ nước làm ráo bột $\rightarrow$ Hồ hóa nhiệt một nửa khối bột trong nước sôi (nhiệt độ hồ hóa của gạo từ 67 - 78°C, hàm lượng amylose trung bình 17%) $\rightarrow$ Phối trộn với nửa bột ẩm còn lại $\rightarrow$ Tạo hình sợi qua khuôn ép đáy đục lỗ đường kính 3 mm $\rightarrow$ Nấu chín sợi bún trong nồi nước sôi khoảng 1 phút $\rightarrow$ Làm nguội nhanh bằng nước sạch để ổn định cấu trúc sợi $\rightarrow$ Thu bún thành phẩm (tỷ lệ 1 kg gạo cho ra gần 3 kg bún, muối bổ sung 1 - 3%).
  • Thực trạng phát thải và phụ gia: Làng Mẽ sản xuất và cung ứng 40 tấn bún/ngày (thời điểm cao điểm lên đến 80 tấn/ngày). Trung bình 1 tấn bún thải ra khoảng 425 m³ nước thải; một hộ sản xuất thải trung bình 162 m³/ngày. Tác giả ghi nhận các chất phụ gia và hóa chất tẩy trắng/bảo quản được đề cập trong ngành như Psychotrine, Tinopal (Tinopal-AMS, Tinopal-DMS), $Na_2S_2O_4$, Formol, hàn the ($Na_2B_4O_7$).
  • Đặc tính ô nhiễm nước thải và nước mặt: Kết quả phân tích mẫu nước thải $NT$ cho thấy hàm lượng các chất ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng vượt chuẩn rất cao so với quy chuẩn nước thải công nghiệp:
    • $pH = 5,7$ (chua nhẹ do quá trình lên men tinh bột).
    • $TSS = 1600\ \text{mg/l}$ (vượt 16 lần so với giới hạn 100 mg/l của QCVN 40-MT:2015/BTNMT).
    • $COD = 1440\ \text{mg/l}$ (vượt 9,6 lần so với mức 150 mg/l).
    • $BOD_5 = 1382\ \text{mg/l}$ (vượt 27,64 lần so với mức 50 mg/l).
    • $NH_4^+ = 7,8\ \text{mg/l}$ (vượt ngưỡng 6 mg/l).
  • Chất lượng nước mặt tiếp nhận: Tại 8 điểm quan trắc mương và ao hồ ($NM1 - NM8$), chỉ số $TSS$ dao động từ 100 đến 1300 mg/l (vượt QCVN 08:2015 từ 2 đến 30 lần tại các điểm $NM1, NM2, NM4, NM5, NM6, NM8$); $BOD_5$ vượt 1,1 đến 4 lần quy chuẩn; hàm lượng $Mn^{2+}$ ở hầu hết các mẫu đều cao hơn quy chuẩn, riêng mẫu $NM8$ vượt gấp 2 lần; trong khi $pH$ và hàm lượng sắt ($Fe$) vẫn nằm trong giới hạn cho phép.
  • Hiện trạng quản lý và đề xuất mô hình xử lý: Toàn bộ nước thải chưa qua xử lý, xả trực tiếp ra mương hở gây phân hủy yếm khí sinh khí độc $H_2S, NH_3$. Tác giả tính toán và đề xuất các giải pháp kỹ thuật: Mô hình xử lý kỵ khí kết hợp đĩa quay sinh học; sơ đồ công nghệ xử lý nước thải sản xuất bún bằng bùn hoạt tính kết hợp tảo lam Spirulina platensis (tham khảo mô hình làng nghề bún Phú Đô).

Kết quả và đóng góp

1. Bảng số liệu quan trắc thực nghiệm

Khóa luận đã định lượng cụ thể mức độ ô nhiễm của nước thải sản xuất bún và nguồn nước mặt tiếp nhận tại làng Mẽ thông qua các kết quả phân tích phòng thí nghiệm:

Thông số phân tích Đơn vị Kết quả nước thải ($NT$) QCVN 40-MT:2015/BTNMT (Cột B) Đánh giá mức độ vượt chuẩn nước thải Kết quả nước mặt tiếp nhận ($NM1 - NM8$) QCVN 08:2015/BTNMT (Cột B1)
pH - 5,7 5,5 – 9,0 Đạt quy chuẩn 6,5 – 7,5 5,5 – 9,0
TSS mg/l 1600 100 Vượt 16,0 lần 100 – 1300 50
COD mg/l 1440 150 Vượt 9,6 lần Nồng độ cao 30
$BOD_5$ mg/l 1382 50 Vượt 27,64 lần Vượt 1,1 – 4,0 lần 15
$NH_4^+$ mg/l 7,8 6,0 Vượt 1,3 lần Cục bộ ($NM3$ vượt 3 lần) 0,9
$Fe$ mg/l - 5,0 - Đạt quy chuẩn 1,5
$Mn$ mg/l - 1,0 - Vượt chuẩn (NM8 vượt 2 lần) 0,5
$PO_4^{3-}$ mg/l - 4,0 - Đạt quy chuẩn 0,3

2. Giải pháp và kiến nghị đề xuất của tác giả

  • Về mặt công nghệ: Đề xuất triển khai hệ thống xử lý nước thải kết hợp phương pháp sinh học kỵ khí và hiếu khí, cụ thể là mô hình bể lọc kỵ khí kết hợp đĩa quay sinh học (RBC) hoặc hệ thống bùn hoạt tính hiếu khí kết hợp nuôi cấy tảo lam (Spirulina platensis) để xử lý triệt để hàm lượng $BOD_5, COD$ và tinh bột dư thừa trước khi thải ra môi trường.
  • Về mặt quản lý: Quy hoạch mạng lưới rãnh thoát nước riêng biệt giữa nước mưa và nước thải sản xuất; xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung cho làng nghề; tăng cường công tác thanh tra, giám sát môi trường của chính quyền thị trấn Hưng Nhân; tuyên truyền nâng cao nhận thức của các chủ cơ sở sản xuất về việc không sử dụng hóa chất cấm và giữ gìn vệ sinh chung.

3. Đóng góp của đề tài

  • Khóa luận đã xây dựng được bộ dữ liệu hiện trạng đầy đủ, định lượng chính xác các thông số ô nhiễm nước thải và chất lượng nước mặt/nước ngầm tại làng nghề bún làng Mẽ năm 2017.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn về định mức phát sinh dòng thải trên mỗi tấn sản phẩm bún, làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác quy hoạch bảo vệ môi trường làng nghề cho các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Khóa luận tiến hành lấy mẫu quan trắc thực địa vào một đợt duy nhất (ngày 05/03/2017) với số lượng 01 mẫu nước thải đơn lẻ tại một cơ sở sản xuất đại diện (hộ cô Hạnh). Do đó, dữ liệu chưa phản ánh được sự biến động chất lượng nước thải theo các khung giờ khác nhau trong ngày cũng như sự khác biệt theo các mùa sản xuất (mùa khô và mùa mưa, mùa cao điểm lễ tết).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng tần suất và chu kỳ quan trắc môi trường theo chuỗi thời gian nhiều tháng trong năm; tiến hành chế tạo mô hình thử nghiệm (pilot) xử lý nước thải bằng phương pháp kỵ khí kết hợp đĩa quay sinh học trực tiếp tại hiện trường để xác định chính xác hiệu suất xử lý và dự toán chi phí vận hành cho các hộ dân làng Mẽ.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận này là nguồn tham khảo hữu ích đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành: Ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Khoa học Môi trường và Công nghệ Thực phẩm khi thực hiện các đồ án, khóa luận về kiểm soát ô nhiễm nước thải làng nghề chế biến nông sản.
  • Nội dung tham khảo giá trị: Quy trình chi tiết phân tích 8 thông số hóa lý trong phòng thí nghiệm ($TSS, BOD_5, COD, NH_4^+, PO_4^{3-}, Fe, Mn$); các bước tính toán hệ số ô nhiễm $C_{max}$ theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; sơ đồ công nghệ sản xuất bún cơ giới hóa và phương pháp đánh giá cân bằng vật chất - dòng thải của làng nghề truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Định mức phát sinh nước thải trong sản xuất bún tại làng Mẽ là bao nhiêu?

Theo báo cáo của UBND thị trấn Hưng Nhân và tính toán trong khóa luận, với sản lượng khoảng 40 tấn bún/ngày (cao điểm 80 tấn/ngày) của 210 hộ sản xuất, trung bình để sản xuất ra 1 tấn bún cần xả ra môi trường khoảng 425 m³ nước thải. Trung bình mỗi hộ sản xuất thải ra khoảng 162 m³ nước thải/ngày.

2. Các thông số ô nhiễm chính trong nước thải sản xuất bún làng Mẽ vượt quy chuẩn bao nhiêu lần?

Kết quả phân tích mẫu nước thải ($NT$) tại cơ sở sản xuất cho thấy: chỉ số nhu cầu oxy sinh hóa $BOD_5$ đạt 1382 mg/l (vượt 27,64 lần so với QCVN 40-MT:2015/BTNMT Cột B là 50 mg/l); chỉ số nhu cầu oxy hóa học $COD$ đạt 1440 mg/l (vượt 9,6 lần so với quy chuẩn là 150 mg/l); hàm lượng chất rắn lơ lửng $TSS$ đạt 1600 mg/l (vượt 16 lần so với quy chuẩn là 100 mg/l).

3. Công đoạn nào trong quy trình sản xuất bún phát sinh nước thải ô nhiễm hữu cơ nặng nhất?

Nước thải phát sinh nhiều và chứa hàm lượng tinh bột, chất hữu cơ cao nhất tập trung ở các công đoạn: ngâm gạo (nước ngâm chua do lên men tinh bột), nghiền ướt tách bột (nước dịch bột loãng), nấu luộc bún và làm nguội sợi bún bằng nước lạnh.

4. Quy mô lấy mẫu quan trắc môi trường trong khóa luận được bố trí như thế nào?

Đề tài đã tiến hành lấy tổng cộng 16 mẫu vào ngày 05/03/2017, bao gồm: 01 mẫu nước thải sản xuất ($NT$ tại hộ cô Hạnh), 08 mẫu nước mặt ($NM1 - NM8$ dọc theo hệ thống mương thoát nước và ao hồ tiếp nhận), và 07 mẫu nước ngầm ($NN1 - NN7$) gần các cơ sở sản xuất. Các điểm lấy mẫu đều được định vị bằng tọa độ GPS.

5. Tác giả đề xuất những mô hình công nghệ nào để xử lý nước thải làng nghề bún?

Tác giả đề xuất áp dụng các hệ thống xử lý sinh học bao gồm: mô hình xử lý nước thải bằng phương pháp lọc kỵ khí kết hợp đĩa quay sinh học (RBC) và mô hình xử lý bằng bùn hoạt tính hiếu khí kết hợp nuôi cấy tảo lam (Spirulina platensis) dựa trên kinh nghiệm từ làng nghề bún Phú Đô.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Thị Hoa đã phản ánh toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường nước tại làng nghề sản xuất bún làng Mẽ, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Bằng phương pháp quan trắc thực địa và phân tích thực nghiệm tại phòng thí nghiệm, nghiên cứu đã chứng minh nước thải sản xuất bún xả thẳng chưa qua xử lý đang gây ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng, làm chỉ số $BOD_5, COD, TSS$ vượt quy chuẩn cho phép từ hàng chục đến gần ba mươi lần, tác động tiêu cực đến hệ thống nước mặt ao mương địa phương. Các mô hình xử lý sinh học kỵ khí kết hợp hiếu khí và đĩa quay sinh học do tác giả đề xuất là cơ sở khoa học thiết thực giúp chính quyền địa phương và các cơ sở sản xuất từng bước giảm thiểu ô nhiễm, hướng tới mục tiêu phát triển làng nghề bền vững.