Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu Chƣơng 2: Phạm vi, đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục Luận văn Thạc sĩ Khoa học 8 Phạm Viết Duy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 1. Khai thác và chế tác đá Việc khai thác và chế tác đá đã đƣợc biết đến từ thời xa xƣa. Vào khoảng 3 triệu năm trƣớc, thời kỳ đồ đá bắt đầu, là một thời gian tiền sử dài trong đó con ngƣời sử dụng đá để chế tạo nhiều đồ vật từ nhiều kiểu đá khác nhau.
Ví dụ, đá lửa và đá phiến silic đƣợc mài sắc (hay đƣợc đẽo) để làm công cụ cắt gọt và vũ khí, trong khi đá basalt và đá sa thạch đƣợc dùng làm công cụ. Về sau con ngƣời ngày càng cải tiến và sử dụng kỹ thuật một cách rộng rãi để đẽo đá từ nguyên liệu thô tạo ra các đồ vật bằng đá với cách thức chế tác khác nhau, với sức sáng tạo ngày càng đa dạng, phong phú. Kỹ thuật đƣợc sử dụng có thể là phun hay thổi các chất màu lên đá. Việc này đƣợc thực hiện bởi những nghệ nhân chế tác ra những sản phẩm nổi tiếng trên khắp thế giới: từ những công cụ đơn giản cho đến hình khắc trên đá và tranh vẽ trên đá có thể đƣợc tìm thấy trên bất kỳ loại đá nào và có thể đƣợc phát hiện ở nhiều nơi trên trái đất, gồm cả châu Á (Bhimbetka, Ấn Độ, Trung Quốc,…), Bắc Mỹ (Thung lũng chết ở công viên quốc gia), Bắc Mỹ (Cumbe Mayo, Peru,…), và châu Âu (Finnmark, Na Uy),…[18], [20] Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, nghề khai thác và chế tác đá đã tiếp cận với nhiều thiết bị hiện đại, tuy nhiên kèm theo đó là sự gia tăng của ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm không khí và tiếng ồn, ảnh hƣởng đến sức khoẻ của ngƣời lao động và cộng đồng.
Đến nay, trên thế giới đã có những nghiên cứu và áp dụng nhiều giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng, an toàn lao động và sức khoẻ nghề nghiệp. Vấn đề ô nhiễm không khí và tiếng ồn Gần đây, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố kết quả khảo sát về mức độ ô nhiễm không khí trên toàn thế giới. Để đánh giá mức độ ô nhiễm của bầu không khí, các nhà khảo sát dựa vào hàm lƣợng bụi có trong không khí, gọi tắt là PM10, có nghĩa là loại bụi có kích thƣớc nhỏ hơn 10 micromet. Đối tƣợng điều tra là hơn 1.100 thành phố của nhiều Luận văn Thạc sĩ Khoa học 9 Phạm Viết Duy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội nƣớc trên toàn cầu.
Cũng theo WHO, nếu hàm lƣợng bụi này vƣợt quá 20 microgram/m3, sức khỏe con ngƣời sẽ bị ảnh hƣởng, cụ thể là gây nên các bệnh về đƣờng hô hấp nhƣ ung thu phổi, nhiễm trùng đƣờng hô hấp… Ô nhiễm không khí tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp, nơi công cộng có mật độ phƣơng tiện giao thông cao ở các thành phố lớn nhƣ các thành phố ở Ấn Độ, Pakistan, Iran. Chẳng hạn, thành phố Lahore (Pakistan) có hàm lƣợng bụi trong không khí là 200 microgram/m3. Đây là thành phố lớn thứ 2 ở Pakistan và là trung tâm kinh tế của nƣớc này; thành phố Kanpur (Ấn Độ) có hàm lƣợng bụi trong không khí là 209 microgram/m3. Thành phố này tập trung khoảng 5 triệu dân, khói bụi từ các nhà máy cộng với số dân đông chính là những nguyên nhân góp phần làm ô nhiễm môi trƣờng nơi đây; thành phố Yasouj (Iran) có hàm lƣợng bụi là 215 microgram/m3, là nơi tập trung nhiều nhà máy sản xuất đƣờng, điện, than,lọc dầu,… là những tác nhân dẫn tới ô nhiễm môi trƣờng ở thành phố này [20].
Ô nhiễm tiếng ồn đƣợc xem là một trong những mối nguy hiểm lớn đối với sức khoẻ của con ngƣời, nguy hiểm không khác gì các hiện tƣợng ô nhiễm khác. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì trong vòng 3 thập kỉ trở lại đây nạn ô nhiễm tiếng ồn đang trở nên bức xúc, ảnh hƣởng trực tiếp đến môi trƣờng và chất lƣợng sống của con ngƣời, nhất là ở các quốc gia đang phát triển [23]. Báo cáo mới đây của Cơ quan Môi trƣờng châu Âu (EEA) cho biết hơn 41 triệu ngƣời tại những thành phố có từ 250.000 dân trở lên ở 19 nƣớc châu Âu đang phải chịu tiếng ồn ở mức từ 55 dB trở lên. Đây là ngƣỡng mà Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng có thể gây ra những tác động về sức khỏe nhƣ ảnh hƣởng đến giấc ngủ, tim mạch, sức khỏe tinh thần và việc học hành.
Theo số liệu thống kê mới nhất của WHO thì tại châu Âu, 40% dân số khu vực này đang bị phơi ra môi trƣờng ô nhiễm tiếng ồn. Mức ồn hiện đã vƣợt trên 55 decibels (dBA), 25% dân số hàng ngày nghe tiếng ồn trên 65 dBA, có tới 30% dân số châu Âu phải ngủ trong môi trƣờng có tiếng ồn vƣợt trên 55 dBA, đây là mức ồn có thể làm gián đoạn giấc ngủ. Theo Cơ quan an toàn giao thông và Môi trƣờng của Luận văn Thạc sĩ Khoa học 10 Phạm Viết Duy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội Liên Minh châu âu thì có từ 44% dân số châu âu (khoảng 200 triệu ngƣời) phải sống chung với tiếng ồn có nguy cơ ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khoẻ [19]. Bộ Môi trƣờng Mỹ (EPA) cảnh báo để hạn chế bệnh điếc, mọi ngƣời không nên tiếp xúc với môi trƣờng có độ ồn lớn hơn 70 dBA trong khoảng thời gian 24 giờ liên tục.
Ngoài ra, nếu làm việc liên tục trong môi trƣờng có độ ồn trên 55 dBA (ngoài trời) và 45 dBA (trong nhà) trong thời gian dài liên tục cũng sẽ gây ảnh hƣởng đến sức nghe. Bộ Môi trƣờng Đức (GFEA) gần đây đã hoàn thành nhiều nghiên cứu và phát hiện thấy mối nguy hại của tiếng ồn đối với sức khoẻ, nhƣ giảm thính lực, làm tăng stress, tăng huyết áp. Cũng theo GFEA, tiếng ồn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Một trong những hiện tƣợng thƣờng thấy là ù tai và dần dẫn đến mất sức nghe và quá lâu nên đã bị điếc, sức khoẻ của họ bị ảnh hƣởng rất nhiều, những bệnh viện đặt gần nơi phát ra tiếng ồn thì mức độ gây nguy hiểm cũng không lƣờng hết.
Theo quy định của WHO, mức ồn đối với các bệnh viện không đƣợc vƣợt quá 30 dBA (ban ngày) và 40 dBA (ban đêm). Nhƣng trong thực tế một số bệnh viện đã vƣợt quá mức quy định này. Ví dụ tại Anh có tới 5 bệnh viện phải chịu mức tiếng ồn trên 80 dBA, tại ấn Độ mức độ tiếng ồn đối với các bệnh viện ở Madurai là 72 dBA (cao nhất) và 57 dBA (trung bình). Để hạn chế mức độ ô nhiễm không khí và tiếng ồn nhiều nƣớc trên thế giới hiện đang áp dụng nhiều phƣơng pháp mới [22].
Tại châu Âu, ngƣời ta đã đƣa ra nhiều đạo luật mang tính bắt buộc áp dụng cho các cơ sở sản xuất, phải trang bị đầy đủ phƣơng tiện phòng hộ, khám bệnh định kỳ cho ngƣời lao động để can thiệp sớm những loại bệnh nghề nghiệp do tiếp xúc với ô nhiễm không khí và tiếng ồn lâu ngày gây ra. Kinh nghiệm quản lý về an toàn lao động và an toàn sức khoẻ nghề nghiệp 1. Kinh nghiệm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Một trong các ví dụ điển hình của ILO về quản lý an toàn lao động đƣợc thực hiện tại một số quốc gia châu Á và khu vực Thái Bình Dƣơng là chƣơng trình cải Luận văn Thạc sĩ Khoa học 11 Phạm Viết Duy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội thiện điều kiện làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (WISE – Working Improvement in Small and Medium Enterprises). Chƣơng trình WISE đƣợc bắt đầu thực hiện tại Philippines từ năm 1994 đã đề xuất 6 nguyên tắc cơ bản sau đây để tạo thuận lợi cho việc tham gia vào các hoạt động quản lý an toàn lao động: (1) Xây dựng chƣơng trình thực hành tại mỗi cơ sở; (2) Tập trung vào các kết quả đã đạt đƣợc; (3) Kết hợp điều kiện làm việc với các mục tiêu quản lý khác; (4) Sử dụng phƣơng châm vừa học vừa làm; (5) Trao đổi kinh nghiệm; (6) Tăng cƣờng giải quyết các vấn đề liên quan đến ngƣời lao động.
Năm 2001, các nƣớc thành viên của ILO đã thông qua “Hƣớng dẫn về hệ thống quản lý an toàn lao động” (ILO-OSH 2001). Hƣớng dẫn này đƣợc coi nhƣ một công cụ đẩy mạnh việc hỗ trợ có định hƣớng hoạt động cả về chính sách và mức độ an toàn lao động tại nơi làm việc. ILO-OSH 2001 bao gồm 5 yếu tố cấu thành chính: (1) chính sách, (2) tổ chức, (3) kế hoạch và thực hiện, (4) đánh giá, và (5) hoạt động cải thiện. Nhiều hội thảo và hội nghị chuyên đề về ILO-OSH 2001 đã đƣợc tổ chức tại Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam nhằm áp dụng ILO- OSH 2001 vào bối cảnh thực tế của từng quốc gia [16].
Hệ thống quản lý an toàn lao động ở Thái Lan Phần lớn các cơ sở sản xuất tại Thái Lan có quy mô vừa và nhỏ. Số doanh nghiệp có ít hơn 100 lao động xấp xỉ 300.000, chiếm 97% tổng số các cơ sở sản xuất trong toàn quốc, sử dụng khoảng 48% số ngƣời lao động. Tại Thái Lan, môi trƣờng lao động tồi, điều kiện làm việc không an toàn cộng với hành vi không an toàn của ngƣời lao động dẫn đến tỷ lệ tai nạn lao động cao. Thống kê chính thức cho thấy khoảng 80% trƣờng hợp tai nạn và bệnh nghề nghiệp gây ra bởi hành vi không an toàn của công nhân, 18% gây ra bởi điều kiện làm việc không an toàn, phần còn lại do lỗi của các phƣơng tiện khác.
Ngƣời lao động không nhận thức đƣợc tầm quan trọng của sự tự chăm sóc sức khoẻ cho bản Luận văn Thạc sĩ Khoa học 12 Phạm Viết Duy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội thân. Họ thƣờng không chịu mang phƣơng tiện bảo vệ cá nhân nhƣ: mũ, giày, ủng, gang tay an toàn v.