Chương 1. Một số vấn đề lý luận về nghèo và giảm nghèo. Thực trạng giảm nghèo ở tỉnh Quảng Bình Chương 3. Giải pháp giảm nghèo ở tỉnh Quảng Bình.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Ở nƣớc ta, xóa đói giảm nghèo đƣợc coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội của đất nƣớc. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu cơ bản trong hoạt động của mình là giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ mới để đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi ngƣời dân, mọi gia đình Việt Nam. Vấn đề xóa đói giảm nghèo đã đƣợc đƣa vào mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội 5 năm (1996-2000). Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) đã khẳng định: "Thực hiện tốt chương trình XĐGN, nhất là đối với vùng căn cứ quân sự cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số".
Đại hội IX (năm 2001) tiếp tục khẳng định hƣớng đi đó và nhấn mạnh: "Việc tăng Luan van 4 trưởng kinh tế phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo ngay trong từng bước đi và trong suốt quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Phấn đấu đến năm 2010, về cơ bản không còn hộ nghèo". Công cuộc đổi mới của đất nƣớc đã đạt đƣợc những thành tựu vƣợt bậc về phát triển kinh tế -xã hội, đời sống của đa số dân cƣ đƣợc cải thiện, công tác XĐGN đã thu đƣợc thành tựu đáng kể. Song, mức sống của ngƣời dân vẫn còn thấp, phân hóa thu nhập có xu hƣớng tăng lên.
Một bộ phận khá lớn dân cƣ còn sống nghèo đói, trong đó có nhiều gia đình có công với Cách mạng vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi trong hòa nhập cộng đồng và không đủ sức tiếp nhận những thành quả do công cuộc đổi mới mang lại. Cuối năm 2005, cả nƣớc vẫn còn khoảng 22% số hộ nghèo đói. Chƣơng trình mục tiêu quốc gia XĐGN đã triển khai mạnh mẽ ở tất cả các tỉnh, thành, quận, huyện trong cả nƣớc, nhƣng hiệu quả chƣa cao. Nhiều hộ thoát nghèo vẫn chƣa vững chắc, rất dễ tái nghèo khi gặp thiên tai hay rủi ro bất thƣờng trong đời sống và sản xuất kinh doanh,.
Vấn đề nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở nƣớc ta là vấn đề đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và các cấp, các ngành cũng nhƣ nhiều cơ quan, nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay đã có nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo đƣợc công bố, cụ thể là các công trình sau: - Nguyễn Thị Hằng, Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, 1997. Cuốn sách đã đánh giá khá đầy đủ về thực trạng nghèo đói ở Việt Nam và biện pháp xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nƣớc ta đến năm 2000. Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả), Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, 2001.
Các tác giả đã phản ánh tổng quan về nghèo đói trên thế giới; đƣa ra các phƣơng pháp đánh giá về nghèo đói hiện nay, nghèo đói ở Việt Nam và nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở Luan van 5 tỉnh Quảng Bình; qua đó đƣa ra một số quan điểm, giải pháp chung về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.[2] - Đề tài nghiên cứu khoa học “Nâng cao thu nhập cho ngƣời nghèo trên địa bàn thành phố Tam Kỳ” của tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Thảo - Trƣờng Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng. Trong đó tác giả đã làm rõ những vấn đề sau: Tiến độ giảm nghèo và những đặc tính ngƣời nghèo ở Việt Nam; Thực trạng đói nghèo trên địa bàn thành phố Tam Kỳ; Thực trạng về thu nhập của ngƣời nghèo trên địa bàn thành phố Tam Kỳ; Đánh giá tác động của các yêu tố đến thu nhập của ngƣời nghèo trên địa bàn thành phố Tam Kỳ; Nguyện vọng của hộ nghèo. Từ đó tác giả đã đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững trên địa bàn thành phố Tam Kỳ. [20] - Đề tài luận văn thạc sỹ “Giải pháp giảm nghèo trên địa bàn quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Trí Dũng là đề tài nghiên cứu về vấn đề nghèo và giảm nghèo trên địa bàn quận Hải Châu giai đoạn 2009 – 2012.
Luận văn đã chỉ rõ trong giai đoạn mà nền kinh tế thế giới khủng hoảng tài chính, nợ công diễn ra khắp nơi, đất nƣớc phải đối mặt với những khó khăn thách thức khủng hoảng tiền tệ, suy giảm kinh tế, lạm phát tăng cao, thiên tai, dịch bệnh, đã ảnh hƣởng đến sự phát triển kinh tế, giá cả các mặt hàng thiết yếu tăng cao, làm cho bộ phận ngƣời dân thu nhập thấp, các hộ nghèo trong chƣơng trình gặp nhiều khó khăn, trở ngại không nhỏ đến công tác giảm nghèo của quận Hải Châu. Nhƣng với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, dƣới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, đã phấn đấu nỗ lực duy trì tốc độ tăng trƣởng kinh tế khoảng 11% đến 12%. Với nhiều chƣơng trình hỗ trợ, kết hợp với nhiều nguồn lực ƣu tiên giải quyết cho hộ nghèo, vƣơn lên thoát nghèo khỏi ngƣỡng 500.000đ/ ngƣời/tháng. Với số liệu cụ thể thực trạng nghèo đầu năm 2009 toàn quận có 5080 hộ nghèo chiếm tỉ lệ 12,81% trên tổng số hộ của quận (39.650 hộ), cùng với nhiều giải pháp thiết thực đồng bộ Luan van 6 giữa giải quyết các chế độ chính sách hỗ trợ vốn vay ƣu đãi, hỗ trợ phƣơng tiện sinh kế, xây nhà tình thƣơng tình nghĩa, hỗ trợ điện, nƣớc, vệ sinh môi trƣờng, hỗ trợ đột xuất khó khăn với tổng số tiền bình quân khoảng 20 tỷ trên một năm và khoảng 80 tỷ trong 4 năm thực hiện, đồng thời gắn với tuyên truyền ý thức tự vƣơn lên thoát nghèo của các hộ nghèo đến cuối năm 2012 100% hộ nghèo trong chƣơng trình thoát nghèo.
[7] Ngoài ra còn nhiều bài báo, tạp chí viết về vấn đề xóa đói giảm nghèo nhƣ TS.Tạ Thị Lệ Yên,"Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo", tạp chí Ngân hàng số 11/2005; tác giả Trịnh Quang Chinh,"Một số kinh nghiệm từ chương trình xóa đói, giảm nghèo ở Lào Cai", tạp chí Lao Động và Xã hội số 272 tháng 10/2005; TS. Đàm Hữu Đắc,"Cuộc chiến chống đói nghèo ở Việt Nam thực trạng và giải pháp", tạp chí Lao động và Xã hội số 272 tháng 10/2005. Đồng thời, còn có nhiều công trình khoa học khác nghiên cứu vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nhiều khía cạnh khác nhau. Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu về nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở nƣớc ta là rất phong phú.
Thành quả của những công trình đã cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn cho việc xây dựng, triển khai công tác xóa đói, giảm nghèo trên toàn quốc và từng địa phƣơng. Mặc dù có nhiều dự án và nghiên cứu về vấn đề giảm nghèo nhƣng đối với tỉnh Quảng Bình chƣa có một nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này. Cũng có một số báo cáo cuối năm, báo cáo tổng kết 5 năm mục tiêu giảm nghèo, tuy nhiên cũng chỉ dừng ở mức báo cáo thống kê, đánh giá. Tỉnh Quảng Bình là một trong những tỉnh nghèo của khu vực miền Trung, nên việc giảm nghèo mang tính bức xúc và đƣợc các cấp ủy đảng, chính quyền cũng nhƣ ngƣời dân đặc biệt quan tâm.
Việc lựa chọn đề tài giải pháp giảm nghèo ở tỉnh Quảng Bình càng làm tăng thêm tính thiết thực trong giai đoạn hiện nay. Luan van 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO 1. Quan niệm về nghèo a.
Quan niệm của một số tổ chức quốc tế Đói nghèo và chống đói nghèo luôn là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới, bởi vì giàu mạnh gắn liền với sự hƣng thịnh của đất nƣớc. Đói nghèo thƣờng gây ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn về xã hội, bất ổn về chính trị. Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ và số lƣợng. Bởi vậy, để nhìn nhận và đánh giá đúng tình trạng đói nghèo của một quốc gia, một vùng cũng nhƣ nhận dạng đƣợc hộ nghèo, đòi hỏi chúng ta phải có sự thống nhất về khái niệm và các tiêu chí để đánh giá nghèo tại từng thời điểm.
Hiện nay chƣa có định nghĩa duy nhất về nghèo và chƣa có một sự thống nhất tuyệt đối trong quan niệm về nghèo. Đầu những năm 70, đói nghèo chỉ đƣợc coi là sự đói nghèo về tiêu dùng, với tƣ tƣởng cốt lõi và căn bản nhất để một ngƣời bị coi là nghèo đói đó là sự "thiếu hụt" so với mức sống nhất định. Mức thiếu hụt này đƣợc xác định theo các chuẩn mực xã hội và phụ thuộc vào không gian và thời gian. Trong báo cáo phát triển con ngƣời năm 1997, Chƣơng trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã đề cập đến khái niệm đói nghèo về năng lực, khác với quan niệm đói nghèo về thu nhập.
Theo đó, “nghèo khổ của con ngƣời là khái niệm biểu thị sự nghèo khổ đa chiều của con ngƣời - là sự thiệt thòi (khốn cùng) theo 3 khía cạnh cơ bản nhất của cuộc sống con ngƣời”. Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới thì đƣa ra quan điểm: “Nghèo là một khái niệm đa chiều vƣợt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực nhƣ: Luan van 8 dinh dƣỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thƣơng, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”. Cho đến nay, khái niệm nghèo đƣợc dùng nhiều nhất là khái niệm đã đƣợc đƣa ra tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói do Ủy ban Kinh tế & Xã hội của Châu Á – Thái Bình Dƣơng (ESCAP) tổ chức vào tháng 9/1993 tại Bangkok – Thái Lan, quan niệm này đƣợc phát biểu nhƣ sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” [14, tr.