CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO 1. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO 1. Những vấn đề về nghèo a. Quan niệm về nghèo - Quan niệm trên thế giới Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ và số lượng.
Người nghèo của quốc gia này có thể có mức sống cao hơn mức sống trung bình của các quốc gia khác. Bởi vậy, để nhìn nhận và đánh giá đúng tình trạng đói nghèo của một quốc gia, một vùng cũng như nhận dạng được hộ nghèo tại từng thời điểm, đòi hỏi phải có sự thống nhất về khái niệm và tiêu chí để đánh giá nghèo tại từng thời điểm. Phải khẳng định một điều rằng hiện nay chưa có định nghĩa duy nhất về nghèo và chưa có một sự thống nhất tuyệt đối trong quan niệm về nghèo bởi vì quá trình nhận thức về nghèo của con người ngày càng đa dạng và phong phú, không những thế bản thân của người nghèo cũng thay đổi rất nhanh chóng trong suốt những thập kỷ qua. Để xây dựng các chủ trương, giải pháp xóa đói giảm nghèo cần phải có các quan niệm đúng về đói nghèo và có sự thống nhất chung và tương đối cho các quốc gia về các khái niệm nghèo đói.
Nếu có sự khác nhau giữa các quốc gia thì đó chỉ là sự khác nhau về cách tiếp cận chứ không phải khác nhau về bản chất của đói nghèo. Thực tế thế giới thường dùng khái niệm nghèo khổ mà không dùng khái niệm đói nghèo như ở Việt Nam và nhận định nghèo khổ theo bốn khía cạnh là thời gian, không gian, giới và môi trường: Luan van 9 + Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ là người có mức sống dưới mức “chuẩn” trong một thời gian dài cũng có một số người nghèo khổ tình thế như những người thất nghiệp, những người mới nghèo do suy thoái kinh tế hoặc thiên tai, rủi ro… + Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (vùng 3). Tuy nhiên tình trạng đói nghèo ở thành thị, trước hết ở các nước đang phát triển cũng có xu hướng gia tăng. + Về giới: Người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới.
Nhiều hộ gia đình nghèo nhất do nữ giới là chủ hộ. Trong các hộ nghèo đói do đàn ông làm chủ hộ thì người phụ nữ vẫn khổ hơn nam giới. + Về môi trường: Phần lớn người thuộc diện đói nghèo đều sống ở những vùng khắc nghiệt mà ở đó tình trạng đói nghèo và xuống cấp của môi trường đều đang ngày càng trầm trọng thêm. Từ nhận dạng và tình hình trên tổ chức Liên hợp quốc đưa ra hai khái niệm về đói nghèo: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối: Là bộ phận dân cư không được hưởng đầy đủ những nhu cầu cơ bản tối thiểu, những nhu cầu cơ bản đó là những đảm bảo tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. + Nghèo tương đối: Là bộ phận dân cư được hưởng đầy đủ những nhu cầu cơ bản tối thiểu để duy trì cuộc sống. Tùy mức độ đảm bảo nhu cầu tối thiểu mà sự nghèo khổ của dân cư được chia thành nghèo và rất nghèo, hoặc nghèo bậc 1, bậc 2. Có khá nhiều khái niệm khác nhau về nghèo đói, tùy thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà có những khái niệm khác nhau về đói nghèo.
Luan van 10 Theo quan điểm của tổ chức Liên hợp quốc: người nghèo là những người có thu nhập dưới đường ray ranh giới nghèo, được xác định bằng số tiền cho nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở… mà trước mắt là lương thực thực phẩm để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng 2.300 Calo/người/ngày. Khái niệm về đói nghèo được nêu ra tại Hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế và xã hội của Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á – Thái bình dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 cũng đáng được chú ý, Hội nghị này cho rằng; “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ và bao quát nên có thể coi đây là khái niệm chung nhất và có tính hướng dẫn về phương pháp nhận diện nét chính yếu phổ biến về đói nghèo của các Quốc gia. Tuy nhiên các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa chưa được xác định vì còn phải tính đến sự khác biệt về mặt chênh lệch giữa các điều kiện tự nhiên xã hội và trình độ phát triển của mỗi vùng miền khác nhau: ưu điểm của khái niệm này là: làm rõ được bộ phận dân cư nghèo đói là: tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương.
Đây là khái niệm được nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam sử dụng. - Quan điểm đói nghèo của Việt Nam Căn cứ trên thực tế về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và hiện trạng đời sống trung bình phổ biến của dân cư hiện nay có thể đánh giá đói nghèo theo 4 tiêu chí chính: Thu nhập, nhà ở và tiện nghi sinh hoạt, tư liệu sản xuất và vốn liếng để dành. Song, ở nước ta do nền văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam, nên quan niệm về đói nghèo không chỉ đơn thuần đề cập đến Luan van 11 vấn đề thu nhập vật chất mà còn liên quan đến khía cạnh bản sắc văn hóa, đạo đức, nhân văn… Trong các tiêu chí như thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, chỉ tiêu gia đình, hưởng thụ văn hóa. thì tiêu chí thu nhập kinh tế là đáng chú ý hơn cả.
Ở nước ta chỉ tiêu đánh giá hộ gia đình giàu, nghèo, đói, có thể dựa trên chỉ tiêu chính là thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng (hoặc năm) được đo lường bằng chỉ tiêu giá trị quy đổi hoặc hiện vật quy đổi. khái niệm thu nhập ở đây được hiểu là thu nhập thuần túy. Đối với hộ dân cư ở nông thôn, thu nhập được tính bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí bỏ ra. Chỉ tiêu thu nhập bình quân nhân khẩu/tháng là tiêu chí cơ bản nhất để xác định mức độ nghèo.
Ngoài ra còn căn cứ vào tiêu chí phụ là dinh dưỡng bữa ăn, mặc, nhà ở và các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại… Trong điều kiện giá cả không ổn định như nước ta hiện nay cần phải sử dụng hình thức hiện vật, phổ biến là quy ra gạo để xác định đói nghèo. Việc sử dụng hình thức hiện vật quy ước này có tác dụng loại bỏ được yếu tố giá cả, từ đó có thể so sánh mức thu nhập của người dân theo thời gian và không gian dễ dàng, thuận tiện. Đặc biệt đối với người nghèo nói chung và nông dân nghèo nói riêng, chỉ tiêu số lượng kg gạo bình quân đầu người/tháng rất có ý nghĩa thực tế. Một hộ có thu nhập cao thì nhất thiết không phải là nghèo và ngược lại.
Còn mức độ chi tiêu và cơ cấu chi tiêu không thể thay thế thu nhập, vì chi tiêu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: sở thích, phong tục tập quán, điều kiện khí hậu, quan hệ thị trường. Tương tự như vậy, vấn đề mặc, nhà ở, phương tiện đi lại cũng không thể thay thế chỉ tiêu thu nhập, ngược lại chỉ có tác dụng bổ sung cho chỉ tiêu thu nhập. Luan van 12 Qua nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu và đi đến thống nhất ở các Bộ, ngành Trung ương. Bộ Lao động thương binh và xã hội đã đưa ra khái niệm đói nghèo ở Việt Nam như sau: Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có tiền chữa trị, nhà cửa rách nát. Hộ nghèo là hộ thiếu ăn nhưng không đứt bữa, mặc không lành và không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất. Tóm lại: Nghèo đói là một phạm trù lịch sử, có tính tương đối.
Đói nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế nhưng với tư cách là hiện tượng tồn tại phổ biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển, nghèo đói thực chất là hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, chứ không đơn thuần chỉ là hiện tượng kinh tế, cho dù các yếu tố đánh giá của nó trước hết và chủ yếu dựa trên các tiêu chí về kinh tế. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng cả về lý thuyết lẫn thực tiễn, là cơ sở của việc tìm kiếm đồng bộ các giải pháp xóa đói giảm nghèo ở nước ta. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo. Hầu hết chuẩn nghèo được tính dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu.
Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập (hoặc chỉ tiêu) thấp hơn mức tối thiếu chấp nhận được, tức là thấp hơn chuẩn nghèo. Chuẩn nghèo một khái niệm động, nó biến động theo không gian và thời gian. Về không gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế xã hội Luan van 13 của từng vùng hay quốc gia. Về thời gian, chuẩn nghèo cũng có sự biến động lớn và nó biến đổi theo từng giai đoạn lịch sử, vì kinh tế xã hội phát triển, đời sống con người được phát triển tốt hơn.
Chuẩn nghèo là công cụ để đo lường và giám sát nghèo đói. Một thước đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của chính phủ tới nghèo đói, cho phép đánh giá theo thời gian, tạo điều kiện so sánh với các nước khác và giám sát chi tiêu xã hội theo hướng có lợi cho người nghèo.