mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO TẠI QUẬN 11, TP. HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2009 - 2015 Chƣơng 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU TẠI QUẬN 11, TP. HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU 1.1 Những vấn đề chung về Nghèo 1.1 Quan niệm về Nghèo Trên thực tế khái niệm “nghèo” thƣờng đƣợc dùng gắn liền với khái niệm “đói”, trở thành khái niệm kép “nghèo đói” hay “đói nghèo”. “Nghèo là không đủ những điều kiện vật chất tối thiểu cho cuộc sống, thiếu những gì gọi là tối thiểu nhất.
Đói là cảm thấy muốn ăn và cần phải ăn; là sự thiếu thốn lƣơng thực, không đủ ăn, là những đòi hỏi cần phải có. Nghèo đói là rất nghèo, đến mức thiếu ăn, đứt bữa. Nhƣ vậy, đói là mức độ cao hơn của nghèo. Nghèo đối lập với giàu và đói đối lập với no đủ.
Đây là mối quan hệ chỉ mức độ khác nhau của cuộc sống tối thiểu của con ngƣời” (Nguyễn Nhƣ Ý, 1998, trang 647 và trang 1192). Hội nghị về chống nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng do Ủy ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dƣơng (ESCAD) tổ chức tại Bangkok (Thái Lan) vào tháng 9 năm 1993 đã đƣa ra khái niệm nghèo đói, đƣợc nhiều quốc gia chấp nhận và sử dụng trong những năm qua: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phƣơng” (Nguyễn Thị Hằng, 1997, trang 22-23). Đây là khái niệm có tính định tính về nghèo đói, chƣa chỉ ra cụ thể các tiêu chí để đánh giá nghèo đói, tạo điều kiện thuận lợi để các quốc gia đƣa ra tiêu chí về vấn đề này phù hợp với mức độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của đất nƣớc mình. Khi đƣa ra khái niệm này, từng quốc gia, dân tộc cần tính đến những khác biệt và độ chênh lệch về sự phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng, các khu vực và điều kiện lịch sử cụ thể.
Song, bản chất của nghèo đói là những nhu cầu cơ bản tối thiểu của con ngƣời đƣợc xã hội thừa nhận nhƣng đối với một số ngƣời không đủ những nhu cầu cơ bản, tối thiểu đó để đáp ứng, duy trì sự tồn tại của con ngƣời nhƣ: ăn, mặc, ở, đi lại, y tế, văn hóa, giáo dục …. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Từ khái niệm nghèo đói nêu trên thấy rằng, khái niệm nghèo đói có tính động, nó thay đổi theo thời gian và không gian. Bởi vì, nhu cầu thiết yếu tối thiểu của con ngƣời luôn luôn vận động, phát triển theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, dân tộc, thậm chí thay đổi ở từng vùng, miền trong một quốc gia. Vì vậy, một ngƣời đƣợc coi là nghèo ở quốc gia này, thời điểm này, chƣa chắc đã đƣợc coi là nghèo ở quốc gia khác, thời điểm khác.
Nghèo đói có thể đƣợc hiểu là tình trạng thu nhập thực tế của ngƣời dân mà hầu nhƣ toàn bộ thu nhập dành cho ăn; phần tích lũy hầu nhƣ không có, hoặc không đáng kể để đáp ứng các nhu cầu khác. Nhƣ vậy, qua thực tế ở nƣớc ta, các nhà khoa học và quản lý ở các bộ, ngành đã thảo luận và nhất trí đƣa ra khái niệm nghèo ở Việt Nam: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con ngƣời và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phƣơng diện. Đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ nghèo có mức sống dƣới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Từ đó có thể định nghĩa tổng quát nhất, nghèo là một khái niệm tƣơng đối chỉ mức sống của bản thân so với cộng đồng xã hội mà do sự vận động của xã hội nên mình chƣa thể bằng mọi ngƣời đƣợc.2 Quan niệm chuẩn nghèo Nhƣ trên đã trình bày khái niệm nghèo còn nặng về định tính, chƣa nhấn mạnh về định lƣợng.
Do sự phụ thuộc của vấn đề nghèo vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán của các quốc gia, dân tộc và phụ thuộc vào thời gian, không gian. Bởi vậy, mỗi quốc gia, dân tộc đều xác định tiêu chí (định lƣợng) để xem xét, đánh giá vấn đề nghèo ở nƣớc mình. Các tiêu chí đó đƣợc gọi là chuẩn nghèo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Có thể hiểu “chuẩn nghèo” (một số nƣớc còn gọi là đƣờng nghèo, ngƣỡng nghèo) là công cụ để phân biệt ngƣời nghèo và ngƣời không nghèo.
Ở phần lớn các nƣớc, chuẩn nghèo dựa chủ yếu vào thu nhập hoặc chi tiêu. Những ngƣời đƣợc coi là nghèo khi thu nhập, hoặc chi tiêu của họ thấp hơn mức thu nhập, hoặc chi tiêu tối thiểu chấp nhận đƣợc, tức là thấp hơn chuẩn nghèo. Còn những ngƣời mà mức thu nhập, hoặc chi tiêu của họ ở trên chuẩn nghèo, đó là ngƣời không nghèo, hoặc đã vƣợt nghèo, thoát nghèo. Chuẩn nghèo còn là thƣớc đo để đo lƣờng và giám sát nghèo.
Thƣớc đo đó đƣợc xác định đúng đắn, chính xác sẽ đánh giá đúng tác động của chủ trƣơng, chính sách của Chính phủ đến đói nghèo ở nƣớc đó. Đồng thời, tạo thuận lợi cho việc so sánh nghèo theo thời gian trong một nƣớc và với nƣớc khác và giám sát chi tiêu ngân sách xã hội theo hƣớng có lợi cho ngƣời nghèo. Nhƣ vậy, chuẩn nghèo là thƣớc đo để phân biệt ngƣời nghèo và ngƣời không nghèo của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định và có sự biến đổi theo hƣớng phát triển kinh tế - xã hội của từng nƣớc.1 Xác định chuẩn nghèo của thế giới Việc đo lƣờng mức độ nghèo là một yếu tố quan trọng cho biết tình trạng nghèo ở cấp quốc gia và địa phƣơng, từ đó giúp xác định các mục tiêu cụ thể và xây dựng chính sách giảm nghèo. Cách phổ biến nhất để thiết lập chuẩn nghèo là tiếp cận "Chi phí cho các nhu cầu cơ bản" đƣợc áp dụng rộng rãi ở các nƣớc trên thế giới, bao gồm xác định trƣớc tiên một rỗ hàng lƣơng thực, thực phẩm và phi lƣơng thực, thực phẩm thích hợp để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cơ bản của một hộ và sau đó tính chi phí/trị giá của rổ hàng này.
Về mặt khái niệm, chuẩn nghèo đo lƣờng thu nhập tối thiểu cần thiết để các hộ mua rổ lƣơng thực thực phẩm và các hàng hóa khác phục vụ nhu cầu thiết yếu, để các thành viên trong hộ có đủ lƣơng thực thực phẩm để duy trì sức khỏe và sản xuất để tham gia đầy đủ vào xã hội. Trong thực tế, chuẩn nghèo đƣợc xây dựng trƣớc hết dựa vào một rổ lƣơng thực thực phẩm tham khảo, phản ánh mô hình tiêu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 dùng của ngƣời nghèo; và gắn nó trong một chuẩn dinh dƣỡng đã đƣợc thống nhất (ví dụ 2.100 kcal/ngày/ngƣời); sau đó cộng thêm một khoản chi tiêu phi lƣơng thực thực phẩm dành cho hàng hóa thiết yếu (chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nhà ở và đồ dùng lâu bền) phù hợp với mô hình chi tiêu của ngƣời nghèo. Ngân hàng thế giới (WB) xác định chuẩn nghèo trên quy mô toàn cầu trên cơ sở các đánh giá về tiền tệ. Chuẩn nghèo đƣợc WB tính và sử dụng để đo lƣờng mức độ nghèo chung trên thế giới là 1,25 USD/ngày/ngƣời và của các nƣớc phát triển là 2 USD/ngày/ngƣời với mức giá năm 2005.2 Xác định chuẩn nghèo của Việt Nam Ở nƣớc ta, hiện nay có hai cách chủ yếu để xác định chuẩn nghèo, đó là cách xác định chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê và của Chính phủ do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thực hiện.
Tổng cục Thống kê xác định chuẩn nghèo từ mức thu nhập tính theo thời giá để mua một lƣợng lƣơng thực, thực phẩm thiết yếu đảm bảo khẩu phần ăn đạt nhiệt lƣợng 2.100 Kcalo/ngày/ngƣời. Theo chuẩn này, những hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngƣời dƣới 2.100 Kcalo là hộ nghèo. Chuẩn nghèo chung đƣợc xác định bằng tổng giữa chuẩn nghèo về lƣơng thực, thực phẩm và các chi phí phi lƣơng thực, thực phẩm của nhóm dân cƣ có thu nhập trung bình trong xã hội. Tuy nhiên, phƣơng pháp này chƣa phản ánh đúng thực tế tiêu dùng của đa số cƣ dân nƣớc ta.
Việc sử dụng một chuẩn nghèo duy nhất cho các vùng trong cả nƣớc chỉ nói lên thực trạng nghèo của nƣớc ta, hạn chế việc xác định và lập danh sách hộ nghèo ở từng địa phƣơng để có chính sách cụ thể, kịp thời giải quyết. Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội lại xác định chuẩn nghèo từ nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang sử dụng chỉ tiêu thu nhập, để xác định rõ, cụ thể ai là ngƣời nghèo, hộ nghèo, thôn, xã, huyện… nghèo, chỉ ra các nguyên nhân, làm cơ sở để xây dựng chính sách, giải pháp giảm nghèo. Phƣơng pháp này đến nay đã qua 5 lần điều chỉnh; trong đó đối với khu vực thành thị; gồm: Thời kỳ 1993 - 1995: chuẩn nghèo đƣợc quy ra gạo, cụ thể là, đối với khu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 vực thành thị nếu thu nhập bình quân đầu ngƣời trong 1 hộ dƣới 20Kg gạo/ngƣời/tháng thì hộ đó là hộ nghèo. Thời kỳ 1995 - 1997: số liệu tƣơng ứng đối với khu vực đô thị dƣới 25Kg gạo/ngƣời/tháng.
Thời kỳ 1997 - 2000: số liệu tƣơng ứng đối với khu vực thành thị dƣới 25Kg gạo/ngƣời/tháng, tƣơng đƣơng với 90. Thời kỳ 2001 - 2005: số liệu tƣơng ứng đối với khu vực thành thị là dƣới 150.000 đồng/ngƣời/tháng. Thời kỳ 2006 - 2010: Theo Quyết định số 170/2005/QĐ TTg ngày 8 tháng 7 năm 2005 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 số liệu đối với vùng thành thị là dƣới 260.000 đồng/ngƣời/tháng (dƣới 3.000 đồng/ngƣời/năm). Chuẩn nghèo hiện tại của Việt Nam vẫn thấp hơn chuẩn nghèo của thế giới và không đƣợc tăng tƣơng ứng với mức lạm phát.
Ngoài ra, chuẩn nghèo của Việt Nam cũng là một trong những chuẩn thấp nhất ở Đông Nam Á tính theo bình quân sức mua.