Luận văn: Giải pháp giảm nghèo bền vững tại Thái Nguyên - Trần Thị Tuyết

Tải luận văn thạc sĩ về giải pháp giảm nghèo bền vững tại Thái Nguyên. Phân tích thực trạng, kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

125
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

5. Bố cục của luận văn

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG

1.1. Những vấn đề chung về giảm nghèo bền vững

1.1.1. Khái niệm về nghèo

1.1.2. Khái niệm, mục tiêu và yêu cầu giảm nghèo bền vững

1.1.3. Nội dung, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững

1.1.3.1. Nội dung quản lý giảm nghèo bền vững
1.1.3.2. Các tiêu chí đánh giá kết quả giảm nghèo bền vững
1.1.3.3. Các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững

1.2. Kinh nghiệm của một số địa phương về giảm nghèo bền vững và bài học rút ra cho tỉnh Thái Nguyên

1.2.1. Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững ở một số nước trên thế giới

1.2.2. Kinh nghiệm giảm nghèo bền vững của một địa phương

1.2.3. Một số bài học về giảm nghèo bền vững rút ra cho tỉnh Thái Nguyên

2. Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Câu hỏi nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin

2.2.2. Phương pháp tổng hợp thông tin

2.2.3. Phương pháp phân tích thông tin

2.2.4. Phương pháp so sánh

2.3. Chỉ tiêu phân tích của luận văn

3. Chương 3: THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

3.1. Giới thiệu về Thái Nguyên

3.1.1. Điều kiện tự nhiên tỉnh Thái Nguyên

3.1.2. Kết quả phát triển kinh tế chung của tỉnh

3.2. Kết quả giảm nghèo bền vững tại tỉnh Thái Nguyên

3.3. Thực trạng giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

3.3.1. Phân tích thực trạng giảm nghèo bền vững tại tỉnh Thái Nguyên

3.4. Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố đến thực trạng giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

3.5. Đánh giá chung

3.5.1. Kết quả đạt được

3.5.2. Nguyên nhân của hạn chế

4. Chương 4: GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

4.1. Phương hướng giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

4.1.1. Bối cảnh mới có ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững

4.1.2. Phương hướng giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

4.2. Giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

4.2.1. Hoàn thiện công tác xây dựng chiến lược, chương trình và kế hoạch giảm nghèo bền vững

4.2.2. Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình và chính sách giảm nghèo bền vững

4.2.3. Hoàn thiện công tác kiểm tra, đánh giá các chương trình, chính sách giảm nghèo bền vững

4.3. Giải pháp nâng cao năng lực giảm nghèo bền vững

4.3.1. Tạo điều kiện phát triển kinh tế trên địa bàn

4.3.2. Tăng cường các biện pháp quản lý kinh tế, xã hội

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHIẾU ĐIỀU TRA

Tóm tắt

I. Toàn cảnh giảm nghèo bền vững tại tỉnh Thái Nguyên

Luận văn "Giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên" của tác giả Trần Thị Tuyết (2018) là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giảm nghèo. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xóa đói, giảm nghèo toàn diện, coi đây là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Thái Nguyên, một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, dù đạt được những thành tựu đáng kể trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo, vẫn đối mặt với nhiều thách thức để đảm bảo tính bền vững. Các giải pháp giảm nghèo bền vững tại Thái Nguyên không chỉ tập trung vào hỗ trợ tài chính trực tiếp mà còn hướng đến việc nâng cao năng lực, tạo sinh kế và cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân. Luận văn đã phân tích các khái niệm cốt lõi như nghèo đói, nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và đặc biệt là chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg. Cách tiếp cận này không chỉ đo lường nghèo đói qua thu nhập mà còn xét đến mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin. Mục tiêu của công tác giảm nghèo là giảm thiểu tỷ lệ tái nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền, đặc biệt là khu vực nông thôn và miền núi, nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, để thành công, các chính sách hỗ trợ cần được xây dựng và thực thi một cách đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Việc phân tích kinh nghiệm từ các địa phương khác như Hà Nội, Hà Giang cũng cung cấp những bài học quý báu cho Thái Nguyên trong việc hoạch định chiến lược phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.

1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu giảm nghèo bền vững

Công tác giảm nghèo tại Thái Nguyên đã đạt được những kết quả ấn tượng. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 23,65% năm 2012 xuống còn 6,09% vào năm 2016, tương đương 36.668 hộ thoát nghèo. Tuy nhiên, kết quả này chưa thực sự bền vững. Tỷ lệ tái nghèo còn ở mức cao (510 hộ năm 2016), và tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh vẫn cao hơn mức trung bình cả nước. Đặc biệt, tình trạng nghèo đói tập trung chủ yếu ở các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn, nơi cơ sở hạ tầng còn yếu kém và khả năng tiếp cận thị trường hạn chế. Bên cạnh đó, tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước vẫn còn tồn tại ở một bộ phận người dân. Những thách thức này đòi hỏi phải có các giải pháp giảm nghèo bền vững mang tính hệ thống và dài hạn, không chỉ giúp người dân thoát nghèo mà còn ngăn chặn nguy cơ nghèo trở lại.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn đặt ra mục tiêu chung là đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm góp phần thực hiện giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Cụ thể, nghiên cứu hệ thống hóa lý luận về giảm nghèo, phân tích sâu sắc thực trạng giai đoạn 2012-2016, từ đó chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. Đối tượng nghiên cứu chính là các cơ chế, chính sách và biện pháp của chính quyền tỉnh Thái Nguyên trong việc thực thi mục tiêu này. Phạm vi không gian được giới hạn trong toàn tỉnh, trong khi phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn 2012-2016 để đưa ra các đề xuất cho giai đoạn tiếp theo. Kết quả của nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa thực tiễn cho Thái Nguyên mà còn là tài liệu tham khảo giá trị cho các địa phương khác có điều kiện tương tự.

II. Thực trạng thách thức giảm nghèo tại Thái Nguyên

Giai đoạn 2012-2016, công tác giảm nghèo tại Thái Nguyên ghi nhận những bước tiến vượt bậc, nhưng cũng bộc lộ nhiều thách thức lớn đòi hỏi các giải pháp giảm nghèo bền vững toàn diện hơn. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, nhưng sự chênh lệch giữa các địa phương còn đáng kể. Các huyện miền núi như Đồng Hỷ, Phú Lương, Đại Từ vẫn có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn nhiều so với khu vực thành thị. Một trong những thách thức lớn nhất là tỷ lệ tái nghèo và số hộ cận nghèo còn cao. Điều này cho thấy thu nhập của các hộ mới thoát nghèo còn bấp bênh, dễ bị tổn thương trước các cú sốc về kinh tế, thiên tai hay dịch bệnh. Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đã được triển khai nhưng đôi khi còn chồng chéo, dàn trải và chưa thực sự tạo ra động lực để người dân tự vươn lên. Công tác quản lý, giám sát và đánh giá hiệu quả các chương trình còn hạn chế. Nguồn lực đầu tư cho kết cấu hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn tuy đã được quan tâm nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu phát triển sản xuất và cải thiện đời sống. Hơn nữa, nhận thức của một bộ phận người nghèo còn hạn chế, tư tưởng trông chờ vào trợ cấp của nhà nước làm giảm hiệu quả của các giải pháp giảm nghèo bền vững tại Thái Nguyên. Việc chuyển đổi sang chuẩn nghèo đa chiều cũng đặt ra yêu cầu mới, đòi hỏi các chính sách không chỉ tập trung vào thu nhập mà còn phải cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu.

2.1. Phân tích tỷ lệ tái nghèo và hộ cận nghèo còn cao

Một trong những rào cản lớn nhất đối với giảm nghèo bền vững là tình trạng tái nghèo. Theo số liệu của luận văn, năm 2016 có tới 510 hộ rơi vào tình trạng nghèo trở lại. Nguyên nhân chính là do các hộ này thoát nghèo chưa vững chắc, thu nhập chỉ nhỉnh hơn một chút so với chuẩn nghèo. Khi gặp các rủi ro như mất mùa, dịch bệnh, ốm đau hoặc biến động giá cả thị trường, họ rất dễ dàng rơi lại vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo. Bên cạnh đó, số lượng hộ cận nghèo vẫn ở mức cao, tạo ra một "vùng đệm" mong manh. Các hộ cận nghèo này không được hưởng đầy đủ các chính sách hỗ trợ như hộ nghèo nhưng lại có nguy cơ rơi xuống ngưỡng nghèo rất lớn. Điều này cho thấy cần có những chính sách đặc thù cho nhóm đối tượng này để giúp họ củng cố sinh kế và vươn lên một cách bền vững.

2.2. Hạn chế trong công tác tổ chức và thực hiện chính sách

Mặc dù hệ thống chính sách giảm nghèo khá đa dạng, công tác tổ chức thực hiện tại Thái Nguyên vẫn còn những hạn chế. Một số chính sách còn mang tính ngắn hạn, chồng chéo, chưa tạo ra sự gắn kết chặt chẽ để tập trung vào mục tiêu cuối cùng. Ví dụ, chính sách tín dụng ưu đãi đôi khi chưa đi kèm với hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, chuyển giao công nghệ hiệu quả, khiến người dân vay vốn nhưng sử dụng kém hiệu quả. Công tác tuyên truyền chưa đủ sâu rộng, dẫn đến việc một bộ phận người dân chưa nắm rõ quyền lợi và trách nhiệm của mình. Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cấp cơ sở, đặc biệt là cấp xã, thôn, còn chưa đồng đều. Việc điều tra, rà soát hộ nghèo đôi khi chưa chính xác, dẫn đến bỏ sót đối tượng hoặc hỗ trợ không đúng người, làm giảm niềm tin của người dân và hiệu quả của chính sách.

III. Phương pháp hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững

Để giải quyết các thách thức hiện hữu, việc hoàn thiện hệ thống chính sách là giải pháp giảm nghèo bền vững tại Thái Nguyên mang tính then chốt. Luận văn đề xuất một cách tiếp cận toàn diện, tập trung vào việc nâng cao hiệu quả và tính đồng bộ của các chương trình đang triển khai. Thay vì ban hành các chính sách riêng lẻ, cần xây dựng một chiến lược tổng thể, lồng ghép các mục tiêu giảm nghèo vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các chính sách hỗ trợ cần được thiết kế lại theo hướng trao quyền và tạo động lực cho hộ nghèo, thay vì chỉ mang tính trợ cấp. Cần tập trung vào các nhóm chính sách cốt lõi như tín dụng ưu đãi, y tế, giáo dục, nhà ở và dạy nghề. Đặc biệt, việc thực hiện các chính sách phải dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch, có sự giám sát của cộng đồng để đảm bảo nguồn lực đến đúng đối tượng và được sử dụng hiệu quả. Quá trình này đòi hỏi phải hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện, từ khâu xây dựng kế hoạch, phân bổ nguồn lực đến kiểm tra, đánh giá. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở là yếu tố quyết định, giúp họ nắm vững quy trình, có kỹ năng làm việc với người dân và xử lý các vấn đề phát sinh. Cuối cùng, cần định kỳ rà soát, điều chỉnh chính sách cho phù hợp với chuẩn nghèo đa chiều và bối cảnh kinh tế - xã hội thay đổi, đảm bảo các giải pháp giảm nghèo bền vững luôn bám sát thực tiễn.

3.1. Cải thiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo

Chính sách tín dụng ưu đãi là công cụ quan trọng giúp hộ nghèo có vốn sản xuất. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả, cần vượt qua việc cho vay đơn thuần. Luận văn đề xuất gắn kết chặt chẽ hoạt động cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội với các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao khoa học kỹ thuật. Cần xây dựng các mô hình sản xuất hiệu quả, phù hợp với điều kiện từng địa phương và hướng dẫn người dân áp dụng. Quy trình xét duyệt cho vay cần đơn giản, thuận tiện nhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ để vốn đến đúng đối tượng có nhu cầu và có phương án sử dụng khả thi. Đồng thời, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát sau cho vay để hỗ trợ người dân kịp thời khi gặp khó khăn, đảm bảo nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích và có khả năng thu hồi, tạo vòng quay vốn bền vững.

3.2. Tăng cường hỗ trợ về y tế và giáo dục cho người nghèo

Y tế và giáo dục là hai trụ cột của an sinh xã hội và là nền tảng cho việc thoát nghèo bền vững. Cần đảm bảo 100% người thuộc hộ nghèo và cận nghèo được cấp thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT) và được tiếp cận các dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng. Về giáo dục, cần thực hiện tốt chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập để không trẻ em nào vì nghèo mà phải bỏ học. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng giáo dục ở các vùng khó khăn, thu hẹp khoảng cách về điều kiện học tập giữa miền núi và đồng bằng. Bên cạnh đó, các chương trình học bổng, quỹ khuyến học cần được nhân rộng để khuyến khích con em hộ nghèo nỗ lực vươn lên trong học tập, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho tương lai.

IV. Cách nâng cao năng lực phát triển kinh tế địa phương

Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách, các giải pháp giảm nghèo bền vững tại Thái Nguyên phải tập trung vào việc nâng cao năng lực nội tại của người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế tại các địa bàn khó khăn. Đây là hướng đi mang tính gốc rễ, giúp người nghèo tự tạo ra sinh kế ổn định thay vì phụ thuộc vào trợ cấp. Luận văn đề xuất các giải pháp đồng bộ, từ đào tạo nghề, tạo việc làm đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và tăng cường công tác truyền thông. Việc dạy nghề cho lao động nông thôn cần gắn liền với nhu cầu của thị trường và thế mạnh của địa phương. Các mô hình kinh tế hợp tác, tổ hợp tác, doanh nghiệp vừa và nhỏ tại khu vực nông thôn cần được khuyến khích phát triển để tạo việc làm tại chỗ. Song song đó, việc đầu tư vào hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc là điều kiện tiên quyết để kết nối các vùng nghèo với thị trường, thúc đẩy giao thương hàng hóa. Công tác truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi nhận thức, khơi dậy ý chí tự lực vươn lên của hộ nghèo, đồng thời phổ biến các mô hình làm kinh tế giỏi, các kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Sự kết hợp hài hòa giữa nâng cao năng lực con người và cải thiện môi trường kinh tế sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc cho công cuộc giảm nghèo bền vững.

4.1. Đẩy mạnh dạy nghề tạo việc làm và tăng thu nhập

Giải quyết việc làm là con đường trực tiếp và bền vững nhất để tăng thu nhập cho hộ nghèo. Cần đa dạng hóa các hình thức dạy nghề, từ các lớp ngắn hạn về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi đến đào tạo các ngành nghề phi nông nghiệp như may mặc, cơ khí, dịch vụ. Chương trình dạy nghề phải được xây dựng dựa trên khảo sát nhu cầu của doanh nghiệp và tiềm năng của địa phương, đảm bảo lao động sau đào tạo có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm. Chính quyền cần có chính sách hỗ trợ, kết nối giữa cơ sở đào tạo, người lao động và doanh nghiệp. Ngoài ra, việc khuyến khích các mô hình kinh tế trang trại, gia trại, làng nghề truyền thống cũng là một hướng đi hiệu quả để tạo ra nhiều việc làm và nâng cao giá trị sản phẩm địa phương.

4.2. Phát triển kết cấu hạ tầng hỗ trợ sinh kế hộ nghèo

Kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất cho sự phát triển. Ưu tiên đầu tư kiên cố hóa hệ thống đường giao thông nông thôn, kênh mương thủy lợi, và lưới điện quốc gia đến các thôn, bản đặc biệt khó khăn. Hạ tầng giao thông tốt sẽ giúp người dân vận chuyển nông sản thuận lợi, giảm chi phí sản xuất và tiếp cận thị trường dễ dàng hơn. Hệ thống thủy lợi đảm bảo sẽ giúp tăng năng suất cây trồng, giảm rủi ro do thiên tai. Bên cạnh đó, việc phát triển hạ tầng thông tin như Internet và sóng điện thoại sẽ giúp người dân tiếp cận kiến thức khoa học kỹ thuật, thông tin thị trường, và các dịch vụ công trực tuyến, góp phần nâng cao dân trí và hiệu quả sản xuất kinh doanh.

4.3. Tăng cường truyền thông và nhân rộng các mô hình hiệu quả

Công tác truyền thông cần được thực hiện thường xuyên và đa dạng về hình thức để thay đổi tư duy ỷ lại, khơi dậy tinh thần tự lực của người nghèo. Các phương tiện thông tin đại chúng cần tích cực tuyên truyền về chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời nêu gương các cá nhân, hộ gia đình điển hình đã nỗ lực vươn lên thoát nghèo. Việc tổ chức các buổi hội thảo, tham quan học tập các mô hình sản xuất kinh doanh giỏi là cách làm thiết thực để người dân học hỏi kinh nghiệm. Cần tổng kết, đánh giá và nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả, phù hợp với từng vùng sinh thái và nhóm đối tượng khác nhau, tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng.

03/10/2025
Luận văn thạc sĩ giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Những vấn đề chung về giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm về nghèo 1. Các khái niệm về nghèo Nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính chất toàn cầu.

Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà còn tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế đưa ra các khái niệm khác nhau về nghèo, song nhìn chung, các khái niệm này không có sự khác biệt đáng kể. Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo trong các khái niệm là mức thu nhập hay chi tiêu tối thiểu mà hộ gia đình có thể thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người về ăn, ở, mặc, y tế, văn hóa, giáo dục, đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau giữa các khái niệm là mức đo lường độ thỏa mãn cao hay thấp, mà điều đó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục, tập quán của từng quốc gia, vùng lãnh thổ.

Theo quan điểm của Liên Hợp quốc (UN): Người nghèo là những người có thu nhập dưới đường ranh giới nghèo (gọi là ngưỡng nghèo), được xác định bằng số tiền chi tiêu cho nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở,… mà trước mắt là lương thực, thực phẩm để duy trì sự sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2.300 calo/ người/ ngày [11]. Hội nghị bàn về xoá đói, giảm nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế - xã hội Châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9/1993, tại Băng Cốc (Thái Lan) đưa ra khái niệm: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn và không được hưởng những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận. Có thể xem đây là khái niệm chung nhất về đói nghèo, có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ quát về nghèo. Các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá có tính đến sự khác biệt giữa các vùng, các điều kiện lịch sử download by : skknchat@gmail.com 7 cụ thể quy định trình độ phát triển ở mỗi quốc gia.

Theo ESCAP, có hai dạng nghèo: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. - Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Nhu cầu cơ bản tối thiểu đó là mức bảo đảm tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường. Nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt ở từng quốc gia, vùng lãnh thổ.

Trên thực tế, một bộ phận dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu đói. - Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương. Nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định. Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, việc xóa dần nghèo tuyệt đối là việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo.

Tại Việt Nam, căn cứ theo quyết định số: 59/2015/QĐ-TTg Về baan hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020, các hộ nghèo và cận nghèo được xác định dựa trên các tiêu chí như sau: + Hộ nghèo Đối với khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Đối với khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Hộ cận nghèo Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. download by : skknchat@gmail.com 8 Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Hiện nay, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa ra khái niệm nghèo ở Việt Nam như sau: + Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. + Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện, khả năng thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện. + Hộ nghèo là hộ thiếu ăn nhưng không đứt bữa, mặc không lành và không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất. + Hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân trên đầu người trên tháng từ trên chuẩn nghèo đến tối đa bằng 130% chuẩn nghèo.

+ Xã nghèo là xã có trên 40% tổng số hộ nghèo đói, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao. + Vùng nghèo là chỉ những địa bàn rộng, nằm ở những khu vực khó khăn, hiểm trở, giao thông không thuận lợi, có tỷ trọng xã nghèo, hộ nghèo cao [5]. Trong luận văn sẽ sử dụng khái niệm nghèo sau đây: Nghèo (theo hộ) là bộ phận hộ dân cư có thu nhập dưới mức thu nhập trung bình và không tiếp cận được với các dịch vụ xã hội cơ bản (theo quy định của Chính phủ cho từng vùng, từng thời điểm). Chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo.

Đến nay, trên thế giới có 3 phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo là: - Phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu. - Phương pháp dựa vào thu nhập thực tế. - Phương pháp dựa vào đánh giá của người dân. download by : skknchat@gmail.com 9 Trong ba phương pháp trên, thì hai phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu và dựa vào thu nhập thực tế được các quốc gia sử dụng khá phổ biến.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), khi đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia, nên căn cứ vào bình quân thu nhập đầu người theo hai cách tính: - Phương pháp tỷ giá hối đoái và tính theo USD. - Phương pháp sức mua tương đương tính theo USD. Tuy nhiên, theo phương pháp tỷ giá hối đoái và tính theo USD, việc chuyển đổi thường bị sai lệch, không phản ánh được tính ngang giá của sức mua. Do đó, từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, UN đã đề ra phương pháp tính bình quân thu nhập mỗi nước theo sức mua tương đương (phương pháp sức mua tương đương tính theo USD).

Đây là phương pháp so sánh chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người giữa các nước, nhằm đưa ra chỉ tiêu định lượng so sánh giữa các nước bằng cách đưa đồng tiền của mỗi nước về một đơn vị đo lường thống nhất là USD. Với mục tiêu hàng đầu là đấu tranh chống nạn nghèo khổ ở các nước đang phát triển, WB đưa ra chuẩn nghèo, đói tính theo số calo tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2.100 calo/người/ngày, những hộ gia đình không đảm bảo được mức này là những hộ nghèo khổ. Tiêu chuẩn này được tính chung cho các nước trên thế giới, do đó nghèo khổ theo tiêu chuẩn này chính là nghèo tuyệt đối. Theo mức đánh giá chung của thế giới, để đảm bảo mức 2.100 calo/người/ngày thì cần ít nhất là 1 USD/người/ngày, do đó một người có thu nhập thấp hơn 1 USD/ngày được xem là nghèo [11].

Tuy nhiên, chuẩn nghèo theo thu nhập ở mỗi quốc gia lại khác nhau, tùy theo mức thu nhập trung bình của quốc gia đó. Trong quá trình nghiên cứu đói nghèo và thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, WB đã đưa ra hai mức chuẩn nghèo đối với Việt Nam như sau: Thứ nhất, số tiền cần thiết để mua một số lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với lượng 2.100calo/người/ngày, gọi là chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm [11]. Thứ hai, số tiền cần thiết bao gồm cả chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và chi tiêu cho nhu cầu thiết yếu khác, gọi là chuẩn nghèo chung. download by : skknchat@gmail.com 10 Theo quan niệm của ngân hàng thế giới, ngoài chi tiêu tối thiểu về lương thực, thực phẩm để đảm bảo đủ lượng 2.100calo/người/ngày (tương đương 70% chi tiêu) còn có những khoản chi tiêu tối thiểu phi lương thực, thực phẩm (tương đương 30% chi tiêu) [11].

Ngoài gợi ý của Ngân hàng thế giới về cách xác định chuẩn nghèo theo mức hưởng thụ calo do bữa ăn mang lại hàng ngày qui đổi ra thu nhập đã nêu trên, các nhà nghiên cứu và các cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Nam đã nêu ra các mức xác định chuẩn mực đói nghèo khác nhau, điển hình là cách xác định của Tổng cục Thống kê và của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH). Việt Nam đã áp dụng chuẩn nghèo theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn 2001 - 2005, tính theo thu nhập bình quân đầu người trong hộ cho từng vùng (Quyết định 1143/2000/QĐ-LĐTB&XH, ngày 01/11/2000 của Bộ LĐTBXH). Giai đoạn 2006 - 2010 (Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, ngày 08/7/2005), tính theo khu vực.

Chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 (theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg, ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ): + Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống [18]; + Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (6.000 đồng/người/năm) trở xuống; + Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ