Tổng quan nghiên cứu

Công tác giảm nghèo tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn 2011-2015 đã đạt được nhiều bước tiến quan trọng khi số lượng hộ nghèo giảm mạnh từ 6.529 hộ (chiếm tỷ lệ 21,1%) đầu năm 2011 xuống còn 2.803 hộ (chiếm tỷ lệ 9,53%) vào cuối năm 2015. Tốc độ giảm nghèo bình quân đạt 2,31%/năm, tương ứng với khoảng 745 hộ thoát nghèo mỗi năm. Tuy nhiên, khi chuyển đổi phương thức đánh giá sang chuẩn nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã tăng trở lại mức 17,59%. Thực tế này phản ánh nguy cơ tái nghèo cao, sự chênh lệch mức sống giữa các tiểu vùng và tình trạng thiếu hụt trầm trọng các dịch vụ xã hội cơ bản ngoài thu nhập.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc đánh giá toàn diện thực trạng thực thi các chính sách giảm nghèo đa chiều trên địa bàn huyện Thanh Ba giai đoạn 2015-2017. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích các nguyên nhân gây nghèo cục bộ, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sinh kế của người dân, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp giảm nghèo bền vững đến năm 2020 và định hướng giai đoạn tiếp theo.

Nghiên cứu được triển khai tại 3 xã đại diện cho các tiểu vùng kinh tế của huyện gồm Đại An, Vũ Yển và Yển Khê. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ vững chắc giúp địa phương nâng mức thu nhập bình quân của hộ dân vượt ngưỡng 700.000 đồng/người/tháng tại khu vực nông thôn, đồng thời xóa bỏ rào cản tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cốt lõi, hạn chế triệt để tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào trợ cấp Nhà nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung phân tích Sinh kế bền vững (SLA) do Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) xây dựng, kết hợp cùng Lý thuyết nghèo đa chiều (MPI) do Alkire và Foster khởi xướng, được Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) áp dụng rộng rãi từ năm 2010. Khung phân tích này đánh giá năng lực của hộ gia đình dựa trên 5 nguồn vốn sinh kế: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo đa chiều và giảm nghèo bền vững. Theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2016-2020, hộ nghèo nông thôn được xác định khi có thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/người/tháng trở xuống, hoặc có thu nhập trên 700.000 đồng/người/tháng nhưng thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hệ thống đo lường bao gồm 5 chiều dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin với 10 chỉ số cụ thể phản ánh mức độ thiếu hụt phúc lợi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên tại 3 xã đại diện cho 3 tiểu vùng kinh tế của huyện Thanh Ba gồm: xã Vũ Yển (vùng đồng bằng ven sông), xã Yển Khê (vùng đồi gò trung tâm) và xã Đại An (vùng sâu khó khăn). Cỡ mẫu khảo sát sơ cấp bao gồm 120 hộ gia đình (phân bổ theo nhóm hộ nghèo, cận nghèo và mới thoát nghèo) cùng 30 cán bộ chuyên trách công tác lao động, thương binh, xã hội và cán bộ quản lý cấp xã, cấp huyện.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo tổng kết 5 năm giai đoạn 2011-2015, báo cáo thường niên các năm 2016 và 2017 của Ủy ban nhân dân huyện Thanh Ba và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện. Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2017 thông qua phiếu điều tra bảng hỏi cấu trúc và phỏng vấn sâu. Phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và phân tích ma trận SWOT. Việc lựa chọn các phương pháp này nhằm định lượng chính xác các chiều thiếu hụt, đồng thời xác định rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện trong thời gian thực hiện đề tài từ tháng 5/2017 đến tháng 6/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc chuyển đổi phương pháp xác định hộ nghèo từ đơn chiều sang đa chiều đã làm thay đổi căn bản bức tranh nghèo đói tại huyện Thanh Ba. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo theo thu nhập cuối năm 2015 giảm xuống 9,53%, nhưng khi áp dụng chuẩn đa chiều giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ này ghi nhận ở mức 17,59%, cho thấy một bộ phận lớn dân cư dù vượt qua ngưỡng nghèo tiền tệ nhưng vẫn chịu nhiều thiếu thốn về an sinh.

Thứ hai, kết quả điều tra 120 hộ dân cho thấy sự thiếu hụt tập trung sâu sắc nhất ở 2 tiêu chí là bảo hiểm y tế và điều kiện nhà ở. Có khoảng 42,5% hộ nghèo đang sinh sống trong các ngôi nhà thiếu kiên cố với diện tích bình quân dưới 8m2/người. Bên cạnh đó, hơn 35% hộ gia đình chưa được sử dụng nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh hoặc thiếu nhà tiêu tiêu chuẩn.

Thứ ba, trình độ văn hóa và cơ hội việc làm có mối tương quan thuận chiều với tình trạng nghèo đói. Khoảng 68% chủ hộ nghèo chỉ có trình độ học vấn tiểu học hoặc chưa hoàn thành trung học cơ sở. Hơn 58% lao động thuộc diện nghèo không có việc làm ổn định, chủ yếu làm nông nghiệp manh mún hoặc lao động tự do theo thời vụ.

Thứ tư, công tác trợ cấp khó khăn và hỗ trợ tiền điện theo Thông tư số 190/2014/TT-BTC với mức 49.000 đồng/tháng (tương đương 30 kWh điện) đã hỗ trợ phần nào đời sống người dân. Tuy nhiên, việc hỗ trợ dàn trải đã tạo ra tâm lý ỷ lại, khiến ước tính khoảng 30% hộ mới thoát nghèo vẫn có nguyện vọng duy trì sổ hộ nghèo để tiếp tục nhận chính sách ưu đãi từ ngân sách Nhà nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng nghèo đa chiều tại huyện Thanh Ba xuất phát từ sự hạn chế của nguồn vốn con người và năng lực tích lũy tài sản sinh kế. Khi gặp các biến cố bất lợi như dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi hoặc thành viên trong gia đình ốm đau nặng, các hộ cận nghèo dễ dàng rơi trở lại vào cảnh bần cùng do thiếu quỹ dự phòng tài chính.

Khi so sánh với kinh nghiệm giảm nghèo tại tỉnh Lào Cai (giai đoạn 2011-2015 bố trí 1.197 triệu đồng, hạ tỷ lệ nghèo từ 35,29% xuống 13,81%, giảm bình quân 4,3%/năm) và tỉnh Tuyên Quang (giảm từ 34,83% xuống 9,31%, bình quân giảm trên 5%/năm nhờ tập trung nguồn lực khuyến nông và hạ tầng liên xã), huyện Thanh Ba bộc lộ hạn chế trong việc lồng ghép nguồn vốn giữa Chương trình 135 và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Dữ liệu khảo sát thực tế tại địa phương có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua bảng phân tích đa biến thể hiện tỷ lệ thiếu hụt của 10 chỉ số phúc lợi giữa 3 xã khảo sát, kết hợp biểu đồ cột so sánh tốc độ giảm nghèo thu nhập đối lập với tốc độ giảm nghèo đa chiều. Điều này giúp các nhà quản trị dễ dàng phát hiện các điểm nghẽn chính sách để phân bổ ngân sách đúng mục tiêu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách xã hội. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Thanh Ba cần phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở mở rộng hạn mức cho vay ưu đãi lên 50 - 100 triệu đồng/hộ đối với các dự án chăn nuôi và trồng cây công nghiệp có tính khả thi cao. Mục tiêu đạt 100% hộ nghèo và cận nghèo có nhu cầu được tiếp cận vốn vay sản xuất trong giai đoạn 2018-2020.

Thứ two, triển khai các chương trình đào tạo nghề gắn với thị trường lao động. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thanh Ba cần chủ trì phối hợp với các doanh nghiệp, cơ sở đào tạo tổ chức ít nhất 15 lớp dạy nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp hàng năm. Đảm bảo tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm ổn định hoặc tự tạo việc làm sau đào tạo đạt trên 75% trước năm 2020.

Thứ ba, đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng và hỗ trợ an cư. Ủy ban nhân dân huyện Thanh Ba cần lồng ghép nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia để hoàn thiện hệ thống đường trục liên thôn và trạm cấp nước sạch tập trung. Phấn đấu đến năm 2022, hỗ trợ 100% hộ nghèo xóa bỏ nhà tạm, đảm bảo diện tích ở tối thiểu 24m2/hộ với niên hạn sử dụng trên 10 năm theo quy định.

Thứ tư, tăng cường chuyển giao khoa học kỹ thuật và tuyên truyền thay đổi nhận thức. Trạm Khuyến nông huyện Thanh Ba cần xây dựng từ 8 đến 10 mô hình trình diễn giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao mỗi năm, đồng thời tổ chức tập huấn kỹ thuật canh tác cho hơn 1.200 lượt hộ nghèo. Đi đôi với đó là tuyên truyền nâng cao ý thức tự lực vươn lên, phấn đấu hạ tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện từ 1,5% đến 2,0%/năm một cách bền vững.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý Nhà nước tại các Sở, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân cấp huyện và xã. Tài liệu cung cấp cơ sở phương pháp luận và quy trình thực tế để rà soát, nhận diện chính xác hộ nghèo đa chiều, hỗ trợ việc lập kế hoạch phân bổ nguồn lực công bằng trong các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Thứ hai, cán bộ tín dụng tại Ngân hàng Chính sách Xã hội và ban điều hành các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ. Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về cơ cấu tài sản sinh kế và nhu cầu vốn của từng nhóm hộ, hỗ trợ thiết kế các gói vay phù hợp và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn tại thôn xóm.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Phát triển nông thôn. Đề tài là tài liệu tham khảo giá trị về cách ứng dụng khung phân tích sinh kế bền vững SLA và phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều trong việc giải quyết các bài toán kinh tế nông nghiệp vùng trung du miền núi.

Thứ tư, các chuyên gia tư vấn dự án và đại diện các tổ chức phi chính phủ đang triển khai các chương trình can thiệp cộng đồng. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực chứng về mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản, hỗ trợ việc thiết kế các dự án viện trợ nước sạch, y tế và nhà ở sát với nhu cầu thực tế của người dân yếu thế.

Câu hỏi thường gặp

Nghèo đa chiều khác biệt như thế nào so với phương pháp đo lường nghèo đơn chiều truyền thống? Phương pháp nghèo đơn chiều chỉ căn cứ vào mức thu nhập hoặc chi tiêu tính bằng tiền (dưới 700.000 đồng/người/tháng ở nông thôn). Trong khi đó, nghèo đa chiều đánh giá toàn diện cả thu nhập lẫn mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản gồm y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và tiếp cận thông tin với 10 chỉ số phúc lợi cụ thể.

Tại sao tỷ lệ hộ nghèo của huyện Thanh Ba lại tăng lên 17,59% vào cuối năm 2015? Tỷ lệ này tăng do huyện chuyển đổi từ chuẩn nghèo thu nhập giai đoạn cũ sang áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg. Nhiều hộ dân có thu nhập vượt ngưỡng nghèo cũ nhưng lại bị thiếu hụt nghiêm trọng từ 3 chỉ số dịch vụ xã hội trở lên nên được xếp vào nhóm nghèo đa chiều.

Yếu tố nào tác động lớn nhất đến nguy cơ tái nghèo tại địa bàn nghiên cứu? Nghiên cứu chỉ ra rằng cơ chế chính sách hỗ trợ chưa đồng bộ và nhận thức, trình độ học vấn của người dân là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất. Khoảng 68% chủ hộ nghèo có trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ năng nghề nghiệp và chịu rủi ro cao khi đối mặt với các cú sốc về bệnh tật hay thiên tai.

Chính sách hỗ trợ tiền điện mang lại tác động gì cho hộ nghèo tại địa phương? Chính sách hỗ trợ tiền điện theo Thông tư số 190/2014/TT-BTC với định mức 49.000 đồng/tháng (tương đương 30 kWh điện) đã giảm bớt gánh nặng chi phí sinh hoạt hàng tháng cho hàng nghìn hộ gia đình khó khăn, tạo điều kiện giúp người nghèo cải thiện điều kiện thắp sáng và tiếp cận các thiết bị thông tin cơ bản.

Huyện Thanh Ba có thể học hỏi bài học gì từ mô hình giảm nghèo của tỉnh Lào Cai và Tuyên Quang? Huyện cần học tập kinh nghiệm bố trí nguồn vốn tập trung từ bài học của Lào Cai (giảm nghèo bình quân 4,3%/năm) và Tuyên Quang (giảm trên 5%/năm) bằng cách đẩy mạnh công tác khuyến nông, hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế, đồng thời gắn chính sách tín dụng ưu đãi với chuyển giao khoa học kỹ thuật thực tế.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh khung lý luận về nghèo đa chiều và sinh kế bền vững, làm rõ các tiêu chí đo lường thiếu hụt dịch vụ xã hội tại vùng nông thôn trung du miền núi.
  • Thực trạng giảm nghèo tại huyện Thanh Ba giai đoạn 2011-2015 đạt kết quả tích cực khi giảm tỷ lệ nghèo đơn chiều từ 21,1% xuống 9,53%, nhưng áp lực nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 vẫn ở mức cao với tỷ lệ 17,59%.
  • Nghiên cứu đã chỉ rõ các điểm nghẽn sinh kế tập trung vào sự thiếu hụt diện tích nhà ở kiên cố dưới 8m2/người, nước sạch vệ sinh và tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề chiếm trên 58%.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về tín dụng chính sách 50 - 100 triệu đồng/hộ, đào tạo nghề thực tế, xây dựng nhà ở chuẩn 24m2 và chuyển giao kỹ thuật cho hơn 1.200 hộ dân đã được đề xuất với lộ trình cụ thể đến năm 2020 và định hướng 2025.
  • Các cấp chính quyền và cơ quan ban ngành huyện Thanh Ba cần khẩn trương áp dụng đồng bộ các giải pháp trên nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 1,5% đến 2,0%/năm, xây dựng nền tảng an sinh xã hội vững chắc và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương toàn diện.