phần mở đầu, phần kết luận, Luận văn được chia thành 3 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu - Chƣơng 2: Thực trạng đói nghèo của huyện Ba Bể - Chƣơng 3: Giải pháp chủ yếu xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2011 – 2015 ở huyện Ba Bể. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1.
Khái niệm về đói nghèo Nghèo đói là một trạng thái kinh tế, xã hội phức tạp mà các nhà kinh tế thuộc nhiều trường phái, nhiều quốc gia, nhiều tổ chức cơ quan quốc tế không đồng thuận nhau về các tiêu chuẩn và do đó khi chúng ta dùng một con số thống kê hay một bảng xếp hạng các quốc gia giàu nghèo trên thế giới để có một so sánh, những ý niệm giàu nghèo thường rất chủ quan hay thiên lệch bởi phương pháp thống kê, mục tiêu sử dụng, cơ cấu kinh tế và mức sống của người dân mỗi quốc gia mỗi khác. Căn cứ để xác định đói hay nghèo chính là nhu cầu cơ bản của con người. Nhu cầu cơ bản ở đây được hiểu là những nhu cầu thiết yếu, tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người như ăn, mặc, ở. Hiện nay, trên thế giới tồn tại một số khái niệm về đói nghèo như sau: * Khái niệm về nghèo: Về mặt kinh tế, nghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, túng thiếu.
Rơi vào tình trạng nghèo, con người phải vật lộn, mưu sinh kiếm sống hằng ngày, họ không thể vươn tới những nhu cầu về văn hóa, y tế, giáo dục … hoặc phải cắt giảm tới mức tối thiểu nhất. - Khái niệm đói nghèo của một số tổ chức quốc tế: nghèo là tình trạng một số bộ phận dân cư chỉ có các điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng [20]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 - Theo định nghĩa của Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á và Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (ESCAP): Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương [17]. - Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhangen, Đan Mạch tháng 3 - 1995 đưa ra khái niệm về nghèo cụ thể hơn như sau: Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 USD/mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm tất yếu để tồn tại.
Đây có thể xem là một định nghĩa chung nhất về nghèo, một định nghĩa có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính, phổ biến về đói nghèo. Tuy nhiên các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá còn chưa được lượng hóa. - Sau đó, ESCAP đã đưa ra khái niệm nghèo dưới hai hình thức: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống.
Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng địa phương [17]. * Khái niệm về đói: Đói là tình trạng không được đáp ứng nhu cầu tối thiểu về lương thực, thực phẩm trong cuộc sống hàng ngày [25]. Đói được hiểu là một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, ăn không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày, không đủ sức lao động để sản xuất và tái sản xuất sức lao động. Đói có hai dạng, đói ngay ngắt kinh niên và đói ngay ngắt cấp tính.
Đói gay ngắt kinh niên là hiện tượng một bộ phận dân cư nghèo thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu ăn thường xuyên. Đói gay gắt cấp tính là hiện tượng một bộ phận dân cư trong những hoàn cảnh đột xuất như thiên tai, mất mùa, bệnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 tật, rơi vào khó khăn cùng cực không có gì để sống, không có lương thực, thực phẩm để ăn, có thể dẫn tới cái chết cần được cứu trợ khẩn cấp. Thiếu đói ở các hộ gia đình hoặc một bộ phận dân cư phải sống dưới mức tối thiểu biểu hiện số lượng và chất lượng các bữa ăn. Thất thường về lượng tức bữa đói, bữa no.
Đứt bữa tức ngày chỉ ăn một bữa, hoặc bữa cơm, bữa cháo, hoặc cả hai bữa đều không đủ lượng tối thiểu chứ chưa nói tới chất lượng chất dinh dưỡng. Đứt bữa kéo dài tới hằng tháng hoặc nhiều tháng trong năm, nhất là thời kỳ giáp hạt. Nếu lượng hóa bằng việc sử dụng năng lượng của cơ thể con người, thiếu đói (thiếu ăn) là tình trạng con người mới chỉ thỏa mãn mức 1.500 calo/người/ngày, dưới mức này là đói gay gắt. Hiện nay, lượng calo tối thiểu cho mỗi người mỗi ngày được các nước áp dụng phổ biến là 2.100 calo/người/ngày [17].
Đối với Việt Nam, là một nước nông nghiệp chậm phát triển, đời sống của đại bộ phận người dân còn thấp, một bộ phận không nhỏ người dân còn sống dưới mức nghèo khổ. Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và hiện trạng đời sống của dân cư hiện nay, các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý nhà nước đã đưa ra một khái niệm riêng về đói nghèo ở nước ta. Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện [20]. Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật để duy trì cuộc sống [20].
Trên đây là một số quan điểm về đói nghèo được các tổ chức quốc tế và Việt Nam định nghĩa dưới những hình thức khác nhau nhưng nhìn chung chúng đều sử dụng tiêu chí tiền tệ và điều kiện sống để đánh giá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Khái niệm về xóa đói, giảm nghèo Xóa đói, giảm nghèo là hệ thống các chính sách, giải pháp nhằm khắc phục tình trạng đói nghèo [25] Xóa đói là hoạt động nhằm làm cho bộ phận dân cư nghèo sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì mức sống, từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Giảm nghèo là hoạt động làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo.
Hay giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Xét trên góc độ một nền kinh tế, giảm nghèo là quá trình từng bước thực hiện chuyển đổi từ trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội sang trình độ sản xuất mới cao hơn. Mục tiêu hướng tới là trình độ sản xuất tiên tiến của thời đại. Xét ở góc độ người nghèo, giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực phục vụ sản xuất và đời sống, giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo.
Cũng như các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác xóa đói, giảm nghèo và coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta đã đề ra chủ trương xóa đói, giảm nghèo. Nghị quyết Đại hội Đảng VII đã chỉ rõ: “Cùng với quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế, phải tiến hành công tác xóa đói, giảm nghèo” [17]. Và ở các kì đại hội tiếp theo, công tác xóa đói, giảm nghèo tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng ta.
Dưới ánh sáng đường lối và nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã cụ thể hóa thành kế hoạch, chương trình và các giải pháp đồng bộ để thực hiện công tác xóa đói, giảm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Chủ trương xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân và nhận được sự ủng hộ, hỗ trợ hết sức nhiệt tình của người dân, các tổ chức chính trị, xã hội, cộng đồng doanh nghiệp trong nước và các tổ chức quốc tế. Nó đã trở thành phong trào sâu rộng ở khắp các địa phương và cơ sở. Trong những năm qua, nhờ thực hiện các cơ chế, chính sách xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả, công cuộc xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia giảm tỷ lệ đói, nghèo tốt nhất. Các tiêu thức và chuẩn mực đánh giá nghèo đói a. Các tiêu thức đánh giá đói nghèo Do nghèo đói là một trạng thái kinh tế - xã hội phức tạp, nên hiện nay chưa có một định nghĩa duy nhất về đói nghèo do vậy cũng không có một phương pháp chung, thống nhất để đo lường được nó. Tuy nhiên nền kinh tế quốc gia và quốc tế cần phải có một thước đo căn bản để đo lường đói nghèo, do đó các cơ quan kinh tế quốc tế và Liên hợp quốc thường định nghĩa đói nghèo theo hai tiêu chuẩn: tiêu chuẩn tiền tệ và tiêu chuẩn điều kiện sống.
* Tiêu chuẩn về tiền tệ: Theo tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn nghèo là số tiền cần thiết để mua lượng lương thực tối thiểu cung cấp đủ 2.100 calories mỗi ngày mỗi người và số tiền cần thiết cho những nhu cầu phi lương thực (chi phí lương thực chiếm 70% và phi lương thực 30%). Hoặc, chuẩn nghèo là số thu nhập tương đương với sức mua. Hiện nay, Ngân hàng Thế giới quy định chuẩn nghèo là số tiền thu nhập bình quân đầu người dưới 2 USD/người/ngày [25]. Định nghĩa của Ngân hàng Thế giới chỉ là một tiêu chuẩn tương đối, bởi lẽ tùy thuộc nhiều vào sự lạm phát của đồng tiền và chính sách tiền lương mỗi quốc gia.