CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA DE TÀI 1.L Người đồng tính - Khai niệm Giới tính (Sex) Theo Tổ chức Plan International định nghĩa: “Giới tính sinh học (biological sex) được xác định qua các yếu tố sinh học như giải phẫu học (anatomy), nội tiết tố (hormones) và nhiễm sắc thé (chromosomes). Từ đó, chúng ta biết được một người là nam (male) hay nữ (female)”[33]. Luật Bình đẳng giới năm 2006 định nghĩa: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ” [1]. Các nhà khoa học xã hội sử dụng thuật ngữ giới tính để chỉ những đặc điểm nhận dạng bên ngoài để phân biệt một người nam và một người nữ, cần thiết cho sự tái sản xuất sinh học của con người.
Ngoài ra, giới tính còn được phân biệt bởi sự hiện diện của buồng trứng ở nữ, tinh hoàn ở nam, và nữ giới có 2 nhiễm sắc thé XX, còn nam giới có 2 nhiễm sắc thê XY quy định giới tinh (Theo quan điểm sinh học). - Khái niệm Giới (Gender) “Khái niệm giới không chỉ dé cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ. Trong môi quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vỉ hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho mỗi giới. Những quy định/mong đợi này phù hợp với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo; vì thế nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có khác biệt giữa các cộng đông” [LT, 41-42].
Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Asscociation, APA), Giới là từ dé chỉ những vai trò, hành vi, hoạt động và các thuộc tính được xem là chuẩn mực cho con trai/dan ông hay con gái/đàn bà. Giới là cái hình thành trong quá trình con người lớn lên trong xã hội, ảnh hưởng đến cách họ cư xử, giao tiếp, cảm nhận về chính mình. Luật Bình đăng giới năm 2006 định nghĩa: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò cua nam và nữ trong tat cả các moi quan hệ xã hoi” [1]. 13 Giới nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ, bao gồm sự phân công lao động và cách tiếp cận nguồn lợi và lợi ích.
Khi sinh ra con người không mang đặc tính giới, mà những đặc tính này được hình thành từ gia đình, nơi sinh sống và nền văn hóa mà con người tiếp nhận. - Các biểu hiện của giới: Giới biêu hiện bởi tính lịch sử và tính xã hội. Vấn đề giới hiện diện một cách khách quan trong xã hội, vận động và biến đổi cùng với sự vận động và biến đổi của lịch sử xã hội. Các đặc tính giới không mang tính di truyền, bam sinh mà mang tinh tap nhiễm.
Có thé nhận diện giới ở ba phương diện chính: biểu hiện qua tính cách và phẩm chất; biéu hiện qua các tư tưởng, biểu hiện qua sự phân công lao động xã hội. - GIới tính sinh hoc (Biological sex) Giới tinh sinh hoc được xác định từ lúc một người mới ra đời dé chỉ việc người đó là nam hay nữ về mặt sinh học, chủ yếu gắn lién với những thuộc tính như nhiễm sắc thé, nồi tiết tổ, cơ thể bên trong và bên ngoài. Những khái niệm, định nghĩa về giới có thé khác nhau tùy theo từng xã hội và nền văn hóa, còn giới tính sinh học thì thường được hiểu giống nhau ở mọi nơi. - Xu hướng tinh dục là khả năng một người cảm thấy hấp dẫn về mặt cam xúc, tình cảm, tình dục, mối quan hệ gần gũi với những cá nhân có giới khác, cùng giới hay nhiều hơn một giới.
Theo cách hiểu được chấp nhận phổ biến nhất, người có xu hướng tính dục hướng tới người cùng giới được gọi là người dong tính, hướng tới người khác giới gọi là người di tinh. - Xu hướng tính dục: là cảm nhận bên trong của một người về việc họ là nam hay nữ, hay là một giới nào khác. - Thể hiện giới là cách một người cho thấy xu hướng tính dục của mình thông qua hành vi, quần áo, kiểu tóc, giọng nói, hay các đặc điểm trên cơ thể người đó - LGBT là gì? Đây là tên viết tắt của cộng đồng những người có xu hướng thuộc giới tính thứ 3. Theo Bảng đối chiếu thuật ngữ LGBT của Viện nghiên cứu xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) [28] đó là: 14 L - Lesbian (Đồng tính luyễn ái nữ): Chỉ những người thuộc giới tính nữ, có xu hướng hấp dẫn tình yêu và tình dục với những người thuộc cùng giới tính nữ, một cách lâu dài và có định.
Nhiều phụ nữ đồng tính thích gọi là "Lesbian" hơn thuật ngữ chung là "Gay" (Đồng tính). G - Gay (Đồng tính luyến ái nam): Chỉ những người thuộc giới tính nam, có xu hướng han dẫn tình yêu và tinh dục với những người thuộc cùng giới tính nam, một cách lâu dài và có định. B - Bisexual (Lưỡng tính hoặc Song tính luyến ái): Chỉ những người có xu hướng hấp dẫn tình yêu, tình dục với cả 2 giới tính là nam và nữ, một cách lâu dai. T - Transgender hoặc Trans (Người chuyển giới: Chi những người có tu duy và cảm giác nội tại về giới tính của mình, khác với biểu hiện giới tính của người đó lúc mới sinh ra.
Người chuyền giới bao gồm 2 kiểu người: Người đã phẫu thuật chuyền đổi giới tính và người biết mình thuộc giới tính khác nhưng chưa phẫu thuật chuyên đổi giới tính. Tuy nhiên, để thuật ngữ này không bị “độc quyền sử dụng bởi những người đồng tính nam, nữ, song tính, chuyên giới, người ta đã đưa thêm một chữ Q vào thuật ngữ này. Và cái tên mới LGBTQ ra đời khoảng năm 1996. Thuật ngữ tiếp tục được bé sung thêm một chữ I va tạo thành một cụm thuật ngữ hoàn chỉnh là LGBTQI: Q - Queer (Người di tính): Là một thuật ngữ bao trùm, gồm tất cả những ai la LGBT, và đặc biệt là những nhóm thiểu số khác nhưng chưa được đề cập trong thuật ngữ LGBT.
Đó là những người: Toàn tính luyến ái, vô tính, liên giới tính và nhiều nhóm khác. Q - Questioning (Giới tính chưa xác định): Ngoài ra chữ Q còn được hiểu với nghĩa khác đó là “Questioning”, chỉ những người vẫn đang trong giai đoạn tìm hiểu về giới tính của mình. I - Intersex (Người liên giới tinh): Chỉ những người có xu hướng giới tinh và sinh lý không dién hình. Hay nói cách khác là những người có cả hai tính duc không điển hình.
Đặc biệt là những người có sự khác thường về bộ phận sinh dục bên ngoài va cơ quan sinh sản bên trong, khiên cho giới tính của họ chưa rõ rang. Định kiến và ứng pho s Định kiến Theo Xã hội học định nghĩa “Dinh kiến hoặc thành kiến là những ý kiến, quan điềm được hình thành, trước khi nhân thức các dữ liệu có liên quan hoặc biết rõ những thông tin liên quan của một sự kiện cụ thể. Từ “định kiến” thường được sử dụng đề miêu tả những nếp suy nghĩ, quan điển không thuận lợi, đánh giá chủ quan đối với người hoặc một nhóm người bởi giới tính, quan điểm chính trị, quan hệ xã hội, tuổi tác, tôn giáo, chủng tộc/dân tộc, ngôn ngữ, quốc tịch, hình dáng hay đặc điềm cá nhân, từ đó dẫn đến phân biệt đối xử”. Định kiến có thé đề cập đến một đánh giá tích cực hay tiêu cực của một người dựa trên nhận thức của họ trong tư cách thành viên một nhóm hay những quan hệ xã hội của họ (bị lôi kéo, tác động ảnh hưởng của xã hội, đám đông do tuyên truyền, tác động truyền thông hay do cả né).
Do vậy định kiến có thé hình thành từ những niềm tin vô căn cứ, và có thé bao gồm “bat kỳ thái độ không hợp lý và bất thường chống lại những ảnh hưởng hợp lý. s* Ứng phó Kỹ năng ứng phó là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống khác nhau như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự việc, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của nó, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi gặp một sự việc không như ý muốn Nhu vậy, người đông tính can có những kiến thức và kỹ năng ứng pho với những định kiến mà họ đang hoặc sẽ gặp phải trong cuộc sống. Công tác xã hội Theo Hiệp hội Quốc gia Nhân viên Công tác xã hội của Mỹ (NASW): “Công tác xã hội là một hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng dong dé nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ dé giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ ” [12, tr. 16 Hiệp hội công tác xã hội quốc tế và các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế (2011) thống nhất định nghĩa về công tác xã hội như sau: “Công fác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết van dé liên quan tới moi quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyên và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người.
Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống ”. Tác giả Bui Thị Xuân Mai trong Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội xuất bản năm 2016 đã đưa ra khái niệm “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng dong nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cau và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc day môi trường xã hội về chính sách, nguôn lực và dịch vụ nham giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn dé xã hội, góp phan đảm bao an sinh xã hội ” [2, tr.