Chương 1 TÔNG QUAN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu nước ngoài Theo B. Karl và ctv (2006), xây dựng mô hình logit các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất lựa chọn gia nhập hợp tác xã nông nghiệp.
Mô hình được thực nghiệm trên các biến như giáo dục, tổng thu nhập, quy mô trang trại, trung bình và áp dụng công nghệ cao. Kết quả cho thấy nông dân có quy mô nhỏ có khả năng sẽ tham gia hợp tác xã nông nghiệp cao hơn so với các nông dân giàu có. Nông dân quy mô nhỏ thường có xu hướng muốn được hưởng tiền mặt liền, trợ cấp đầu vào, và các dịch vụ được cung cấp bởi các hợp tác xã nông nghiệp. Tuy nhiên họ cũng tìm ra một số yếu tô quan trọng đóng vai trò tích cực trong việc không ủng hộ tham gia vào hợp tác xã nông nghiệp là tổng thu nhập và một số biến địa vị xã hội.
Giải pháp đưa ra là chính phủ nên có chương trình tín dụng nông nghiệp trực tiếp để cung cấp cho nông dân tiếp cận tốt hơn với thị trường von và tạo cơ hội dé sử dụng với phân bô đầu vào vốn thông qua sử dụng công nghệ hiện đại. Theo Pamela (2006), nghiên cứu những nhân tổ tác động đến việc nông hộ chuyền đổi sang trồng cỏ switch ở miền tây của Mỹ và các tỉnh có nhiều đồng cỏ ở Canada. Cỏ switch là loài thực vật bảo vệ đất rất tốt và có giá tri, sản xuất cỏ switch rất có lợi cho nông dân, nông dân được hoàn thuế, có thể sản xuất công nghiệp sợi, sản xuất năng lượng, và sử dụng nguồn năng lượng sẵn có do mình làm ra. Mô hình logit đã được sử dụng dé đánh giá mức độ các nhân tố tác động lên quyết định chuyên đổi của nông hộ trong việc áp dụng hay không áp dụng mô hình trồng cỏ switch.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 yếu tố ảnh hưởng bao gồm: Thị trường tiêu thụ, thông tin liên qua đên sản xuât của thị trường, lợi nhuận và diện tích chuyên đôi. Mục đích của nghiên cứu này dùng dé đưa ra quyết định có nên hay không khi chuyên đổi sang trồng cỏ và những chính sách đi kèm khi triển khai. Theo Amani và ctv (2011), khi tiến hành điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của gia đình dé tiép tục các hoạt động nông nghiệp ở khu vực Karak, Jerash và Mafraq vùng biên của Jordan. Thu thập dữ liệu từ việc điều tra 85 gia đình nông dân ở vùng này.
Sử dụng thống kê mô tả và hồi quy logit dé xác định các yếu tố kinh tế-xã hội va quản ly đất đai ảnh hưởng đến quyết định của nông dân dé tiếp tục hoạt động nông nghiệp. Các yếu tố tác động xác định được bao gồm: độ tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ; trang trại thu nhập và công việc lao động gia đình ở nông dân; điều kiện kinh tế xã hội là yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến quyết của người nông dân dé tiếp tục hoạt động nông nghiệp. Ngoài ra, quản lý đất thông qua việc áp dụng bảo tồn và hỗ trợ thê chế trong bảo tồn có ảnh hưởng tích cực đến quyết định tiếp tục hoạt động nông nghiệp. Những yếu tố này có thê được coi như một lộ trình cho việc tiếp tục tái cơ cầu các hoạt động nông nghiệp ở vùng biên này.
Sophia và ctv (2013), khi điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến nông hộ chăn nuôi san sàng áp dụng công nghệ chăn nuôi bò vỗ béo tại vùng Shinyanga va Mwanza ở Tanzania. Tiến hành điều tra thu thập từ nông hộ áp dụng và không áp dụng công nghệ chăn nuôi bò vỗ béo, sử dụng bảng câu hỏi điều tra 401 người chăn nuôi bằng cách lựa chọn ngẫu nhiên. Tám huyện đã tham gia: khu vực Shinyanga (Kahama, Kishapu, Meatu, Bariadi, Maswa) và khu vực Mwanza (Nyamagana, Sengerema, Magu). Sau khi phân tích bằng thống kê mô tả và phân tích mô hình hồi quy logit, kết qua này cho thấy 93,5% số người được hỏi sẵn sàng dé vỗ béo gia súc của họ nếu có cơ hội, trong khi đó có 14.7% đã bắt đầu võ béo gia súc của họ bằng những biện pháp khác nhau.
Các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc áp dụng chăn nuôi thịt bò vỗ béo là tình trạng hôn nhân (p <0,1), nhận thức (p <0,05) và thái độ đối với công nghệ (p <0,01). Tình trạng kết hôn ảnh hưởng đến khả năng áp dụng 6,3%, được nhận thức các công nghệ vỗ béo ảnh hưởng đến khả năng áp dụng 11,3% và thái độ đối với công nghệ vo béo bò thịt ảnh hưởng đến khả năng áp dụng 0,3%. Nghiên cứu cũng đưa ra các trở ngại chính dẫn đến hạn chế nuôi bò vỗ béo là thiếu kỹ năng (22,6%), thiếu tin dụng (20,4%), chi phí vỗ béo cao (17%), hạn chế về thức ăn (14,2%) và thiếu co sở ha tang dé vỗ béo (12,4%). Nghiên cứu trong nước Theo nghiên cứu của Mai Văn Thành và ctv (năm 2004), có 5 yếu tố ảnh hưởng đến người dân trong việc ra quyết định áp dụng hệ thống nông lâm kết hợp gồm: an toàn lương thực, dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ vật tư đầu vao, tô chức địa phương, quyền sở dụng đất.
Sau khi xác định được nhóm nhân tổ chính ảnh hưởng đến người dân trong quyết định áp dụng hệ thống nông lâm kết hợp, hàm hồi qui logit được áp dụng dé xác định mức độ và chiều hướng ảnh hưởng. Tác giả đã sử dụng hàm logit mô phỏng mối quan hệ giữa xác xuất Pi (xác xuất dé hộ thứ ¡ áp dụng dụng hệ thống nông lâm kết hợp) với các biến số trong nhóm nhân tổ thứ nhất. Theo Nguyễn Đức Thành (2008), khi tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nghiên cứu xem xét các lý thuyết đầu tư tổng quát nhằm chỉ ra những yếu tố căn bản tác động đến động lực đầu tư nói chung. Trong nghiên cứu này một số đặc thù riêng biệt của khu vực sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn được xác định.
Trên cơ sở đó tóm lược các lý thuyết và chủ đề nghiên cứu về đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và kinh tế hộ gia đình. Tác giả phân biệt các nhóm động lực đầu tư của hai đối tượng khác nhau: các nhà đầu tư từ bên ngoài ngành và các nhà đầu tư là hộ nông nghiệp (tự dau tư). Tác gia đã sử dụng mô hình logit để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nông hộ như: Tâm lý truyền thống (Vị thế của hộ trong cộng đồng, quan điểm chủ quan về tình trạng hiện thời); Nguồn vốn sẵn có của hộ (Vốn cho sản xuất nông nghiệp hiện thời (thiết bị, may móc, trâu bò, v.); Nguồn đất sẵn có của hộ (quy mô, chất lượng, Quy mô ruộng vườn, trang trại, chất lượng đắt, VỊ trí gan duong và chợ,); Nguồn lao động của hộ (Có bao nhiều lao động khả dụng, tỷ lệ người phụ thuộc (ông bà, trẻ em, người ốm đau, mất sức); Vốn con người (Trình độ học vấn các thành viên trong hộ, mức học vấn chung); Thu nhập hiện thời của hộ (quy mô, tính chất, thu nhập quy mô thế nào, nguồn từ nông nghiệp hay phi nông nghiệp, có tiền gửi về từ thành thị hay nước ngoài); Mức tiết kiệm hiện thời (Quy mô và tỷ lệ tiết kiệm có được từ thu nhập hiện thời của gia đình). Các điều kiện bên ngoài khác: Trình độ hiện thời của toàn bộ nền nông nghiệp điều kiện khí hau, thé nhưỡng đặc thù của vùng phù hợp với cây, con gi.), đặc tính của ngành hang ở đó; Môi trường chính trị, pháp luật môi trường hành chính ở địa phương, trình độ quản lý hành chính công ở địa phương các cấp.
Nguyễn Quốc Nghỉ (2011), tác giả sử dụng mô hình hồi quy logit để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của hộ gia đình tại khu vực đồng bằng Song Cửu Long. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra quyết định gửi tiền tiết kiệm của hộ gia đình tại khu vực này có sự tương quan thuận với các nhân tố: Tuổi của lao động chính, trình độ học vấn của lao động chính, nghề nghiệp tạo ra thu nhập chính, tổng thu nhập hàng tháng của hộ và tổng số lao động trong hộ gia đình và đồng thời tương quan nghịch với các nhân tố: giới tính của chủ hộ, tham gia hội đoàn thể và số công việc hoạt động tạo thu nhập của hộ. Nguyễn Đăng Hào (2012), trên cơ sở tiếp cận khung phân tích chiến lược sinh kế với việc sử dụng kết hợp cả phương pháp thống kê mô tả và mô hình logit, tác giả đã cung cấp các thông tin liên quan đến chiến lược sinh kế và các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chiến lược sinh kế của các nông hộ tại vùng cát ven biển của tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy dựa vào nông nghiệp vẫn là một chiến lược sinh kế quan trọng đối với các hộ trong khu vực.
Tuy vậy, chiến lược sinh kế đang có sự thay đổi theo hướng đa dang hóa và có sự khác biệt lớn giữa các điểm nghiên cứu và giữa các nhóm hộ. Các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến sự khác biệt về chiến lược sinh kế là tỷ lệ phụ thuộc, trình độ học vấn của chủ hộ, qui mô vốn và qui mô đất đai. Qua kết quả nghiên cứu tác giả đã đưa ra một số kiến nghị giải pháp gồm: việc day mạnh các hoạt động nâng cao năng lực thông qua các chương trình đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao kiến thức va tay nghề cho người dan là rất quan trọng; Về lâu dai việc đầu tư nhiều hơn nữa cho giáo dục ở khu vực này cần được chú trọng. Bên cạnh đó việc cung cấp các chương trình tín dụng và nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng cho các nông hộ trong khu vực này cũng rất quan trọng.
Phạm Xuân Thanh và Mai Thị Cúc (2014), khi nghiên cứu đến các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương thức chăn nuôi theo hộ gia đình và phương thức chăn nuôi theo hình thức trang trại của các cơ sở chăn nuôi lợn thịt ở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa đại điện cho vùng đồng bằng của tỉnh sử dụng phương thức chăn nuôi công nghiệp nhiều hơn so với các vùng khác của tỉnh. Nghiên cứu này sử dụng ham logit dé phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố đến quyết định lựa chọn phương thức chăn nuôi lợn thịt của các cơ sở chăn nuôi (hộ và trang trại).