Tổng quan nghiên cứu

Bước vào thế kỷ 21, quy mô dân số Việt Nam đã vượt ngưỡng 76,3 triệu người, tạo ra nguồn nhân lực dồi dào với hơn 65% lực lượng lao động thuộc nhóm tuổi trẻ từ 15 đến 34. Tuy nhiên, bức tranh kinh tế giai đoạn 1996-2000 bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng khi có tới 62,56% lực lượng lao động tập trung trong khu vực nông nghiệp, trong khi công nghiệp - xây dựng chỉ chiếm 13,15% và dịch vụ chiếm 24,89%. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm chạp và chưa tương thích với tốc độ chuyển dịch cơ cấu GDP, dẫn đến năng suất lao động xã hội thấp và tỷ lệ thất nghiệp trá hình ở nông thôn kéo dài. Bên cạnh đó, có đến 84,49% người lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, gây cản trở trực tiếp đến tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trước yêu cầu cấp bách đó, luận văn xác định mục tiêu trọng tâm là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động giai đoạn 1996-2000 và đề xuất hệ thống giải pháp kinh tế đồng bộ nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động giai đoạn 2001-2010. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 61 tỉnh, thành phố trên cả nước, phân tích sâu cơ cấu theo ngành, theo vùng lãnh thổ và theo trình độ chuyên môn. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học vững chắc nhằm thực hiện mục tiêu giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 50%, đồng thời nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên mức 30% đến 40% vào năm 2010, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các học thuyết kinh tế học phát triển và kinh tế học lao động kinh điển. Trọng tâm là mô hình hai khu vực của Arthur Lewis công bố năm 1955, giải thích cơ chế chuyển dịch nguồn lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp truyền thống sang khu vực công nghiệp hiện đại thông qua quá trình tích lũy tư bản. Để phù hợp với đặc thù nền nông nghiệp lúa nước châu Á, nghiên cứu vận dụng mô hình chuyển dịch ba bước của Harry T. Oshima, nhấn mạnh vai trò của thâm canh tăng vụ, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn trước khi rút bớt lao động thuần nông sang đô thị.

Bên cạnh đó, quy luật tăng năng suất lao động của Allan Fisher năm 1935 được sử dụng để luận giải xu hướng phân bổ lại việc làm từ khu vực sơ cấp sang khu vực thứ cấp và tam cấp. Hàm sản xuất Cobb-Douglas dạng mở rộng cũng được đưa vào nhằm đánh giá tỷ trọng đóng góp của vốn đầu tư, quy mô lao động và yếu tố khoa học công nghệ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt bao gồm: nguồn nhân lực, chuyển dịch cơ cấu cung lao động, chuyển dịch cơ cấu sử dụng lao động, thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô toàn quốc, trích xuất từ các cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 1989, 1999, các cuộc Điều tra Lao động Việc làm hàng năm của Tổng cục Thống kê và báo cáo chuyên đề của Vụ Lao động - Văn xã thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư giai đoạn 1996-2000.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ lực lượng lao động hoạt động kinh tế với hơn 35,8 triệu người năm 1996 và 38,6 triệu người năm 2000 tại 61 đơn vị hành chính cấp tỉnh. Phương pháp chọn mẫu toàn phần theo hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối, loại trừ sai số chọn mẫu trong phân tích vĩ mô.

Về phương pháp xử lý, tác giả kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian, phân tích cơ cấu tương đối và phân tích cân đối liên ngành. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác mối tương quan nhân quả giữa chuyển dịch cơ cấu đầu tư, tăng trưởng GDP ngành và tốc độ dịch chuyển lao động giữa các vùng kinh tế sinh thái trong giai đoạn bản lề 1996-2000, phục vụ việc dự báo xu hướng cho giai đoạn 2001-2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng tốc độ còn chậm và chưa vững chắc. Tỷ trọng lao động nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 69,80% năm 1996 xuống còn 62,56% năm 2000, tương đương mức giảm bình quân 1,20%/năm. Ngược lại, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 11,93% lên 13,15% với tốc độ tăng trưởng lao động đạt 7,49%/năm. Khu vực dịch vụ ghi nhận mức tăng trưởng nhanh nhất từ 19,65% lên 24,89%, tương đương mức tăng thêm 537.800 lao động mỗi năm.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực có bước cải thiện nhưng cơ cấu trình độ đào tạo tồn tại sự nghịch lý nghiêm trọng. Tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng từ 11,81% năm 1996 lên 15,51% năm 2000. Tuy nhiên, cơ cấu đào tạo năm 2000 rơi vào tình trạng mất cân đối trầm trọng với tỷ lệ 1 Đại học : 1,2 Trung cấp chuyên nghiệp : 1,7 Công nhân kỹ thuật. Con số này hoàn toàn đi ngược lại quy luật phát triển chuẩn của các nước có mức thu nhập tương đồng là 1 Đại học : 2 Trung cấp : 7 Công nhân kỹ thuật, dẫn đến nghịch lý thừa lao động trình độ cao nhưng khan hiếm trầm trọng công nhân kỹ thuật lành nghề.

Thứ ba, sự phân bố lực lượng lao động giữa các vùng lãnh thổ mất cân đối sâu sắc. Hơn 57% dân số và nguồn lao động tập trung tại ba vùng đồng bằng trọng điểm, trong đó Đồng bằng sông Hồng chiếm 19,45%, Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 21,10% và Đông Nam Bộ chiếm 16,60%. Mật độ dân số tại Đồng bằng sông Hồng lên tới 1.130 người/km2, gấp 2,8 lần Đông Nam Bộ và gấp gần 10 lần các vùng Trung du miền núi phía Bắc hay Tây Nguyên. Trong khi đó, các vùng có tiềm năng đất đai và khoáng sản lớn như Tây Nguyên chỉ thu hút được 3,86% lực lượng lao động cả nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên xuất phát từ việc phân bổ vốn đầu tư xã hội chưa đồng bộ giữa công nghiệp và nông nghiệp nông thôn. Khu vực công nghiệp đô thị chưa tạo ra đủ việc làm mới để hấp thu hơn 1 triệu lao động bổ sung mỗi năm. Mặt khác, chính sách giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 1990-1996 thiên lệch về mở rộng các trường đại học với tốc độ tăng sinh viên 20%/năm, trong khi đào tạo nghề chỉ tăng 2,3%/năm.

So sánh với kinh nghiệm chuyển dịch của Trung Quốc thông qua phương châm ly nông bất ly hương giúp giảm lao động nông nghiệp từ 70% năm 1978 xuống 50% năm 1992, hay mô hình ưu tiên công nghiệp chế biến nông thôn của Đài Loan giúp giảm lao động nông nghiệp từ 50% xuống 14,2% năm 1988, tiến trình chuyển dịch của Việt Nam còn phân tán và thiếu tính liên kết chuỗi giá trị.

Để làm nổi bật các phát hiện trên, toàn bộ dữ liệu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn so sánh tỷ trọng lao động ba khu vực kinh tế giữa hai mốc năm 1996 và năm 2000, kết hợp biểu đồ cột so sánh tháp đào tạo kỹ thuật của Việt Nam với chuẩn mực quốc tế, cùng bảng ma trận đối chiếu mật độ phân bổ lao động và quỹ đất chưa sử dụng tại 8 vùng kinh tế sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh tập trung quy hoạch các vùng chuyên canh cây công nghiệp, chế biến nông - lâm - thủy sản xuất khẩu và khôi phục hơn 1.000 làng nghề truyền thống. Mục tiêu giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp thuần túy xuống dưới 50% tổng lực lượng lao động trước năm 2010, giải quyết việc làm tại chỗ cho khoảng 1,5 triệu lao động nông thôn nhàn rỗi.

Thứ hai, tái cấu trúc toàn diện hệ thống giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề, chuyển đổi mạnh mẽ chỉ tiêu tuyển sinh theo tỷ lệ chuẩn 1 Đại học : 2 Trung cấp : 7 Công nhân kỹ thuật. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên mức 30% vào năm 2005 và đạt từ 38% đến 40% vào năm 2010, ưu tiên đào tạo tay nghề cao cho các ngành công nghiệp mũi nhọn như dệt may, giày da, cơ khí chế tạo và điện tử.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế và phát triển đồng bộ thị trường lao động. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì xây dựng hệ thống trung tâm giao dịch việc làm hiện đại tại các vùng kinh tế trọng điểm, đổi mới chính sách tiền lương gắn liền với năng suất lao động và mở rộng mạng lưới bảo hiểm xã hội. Mục tiêu kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực đô thị duy trì dưới 5% và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn lên trên 80% trong giai đoạn 2001-2010.

Thứ tư, điều chỉnh quy hoạch phân bổ lao động gắn với chuyển dịch kinh tế vùng. Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng cơ chế ưu đãi thuế và đầu tư hạ tầng nhằm thu hút các doanh nghiệp vào vùng kinh tế Tây Nguyên, Trung du miền núi phía Bắc và Duyên hải miền Trung. Thực hiện chính sách hỗ trợ di dân có tổ chức để dịch chuyển từ 1 triệu đến 1,5 triệu lao động từ Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ đến các vùng kinh tế mới trong 10 năm tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng Sở Lao động các địa phương. Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng và hệ thống chỉ tiêu cụ thể để xây dựng quy hoạch tổng thể nguồn nhân lực quốc gia và các đề án việc làm trong kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm.

Nhóm thứ hai là ban giám hiệu các trường đại học, cao đẳng và cơ sở dạy nghề trên toàn quốc. Các số liệu phân tích về cơ cấu bậc thợ và sự lệch pha giữa cung - cầu nhân lực là cơ sở quan trọng để điều chỉnh chỉ tiêu đào tạo, đổi mới chương trình giảng dạy và phát triển các chuyên ngành kỹ thuật thực hành bám sát yêu cầu thị trường.

Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học thuộc khối ngành Kinh tế học, Quản lý Kinh tế và Xã hội học. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về việc vận dụng các mô hình kinh tế phát triển của Lewis, Oshima và Fisher vào bối cảnh cụ thể của một nền kinh tế đang chuyển đổi.

Nhóm thứ tư là các nhà quản trị doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề công nghiệp, dịch vụ. Kết quả nghiên cứu giúp doanh nghiệp nắm bắt xu hướng dịch chuyển dân số và phân bố tay nghề theo vùng lãnh thổ, từ đó xây dựng chiến lược tuyển dụng, đào tạo nội bộ và lựa chọn địa điểm đầu tư nhà máy tối ưu chi phí nhân công.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi khiến tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm chậm hơn tỷ trọng GDP nông nghiệp là gì? Nguyên nhân do năng suất lao động trong nông nghiệp tăng chậm và khu vực công nghiệp đô thị chưa đủ năng lực thu hút lao động dôi dư. Trong khi GDP nông nghiệp giảm mạnh xuống 24,5% năm 2000 thì tỷ trọng lao động nông nghiệp vẫn chiếm tới 62,56%, phản ánh tình trạng tích tụ lao động năng suất thấp ở nông thôn.

Cơ cấu đào tạo 1 Đại học : 1,2 Trung cấp : 1,7 Công nhân kỹ thuật gây ra tác động tiêu cực nào? Cơ cấu này tạo ra tình trạng mất cân đối nhân lực trầm trọng, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm có bằng đại học trong khi các doanh nghiệp sản xuất thiếu hụt nghiêm trọng công nhân kỹ thuật lành nghề. So với chuẩn quốc tế 1 : 2 : 7, tháp đào tạo của Việt Nam năm 2000 bị biến dạng nặng nề.

Mô hình của Harry T. Oshima có ý nghĩa thực tiễn như thế nào đối với Việt Nam? Mô hình Oshima chỉ ra rằng đối với nông nghiệp lúa nước thời vụ, giải pháp tối ưu không phải là đẩy ngay lao động ra đô thị mà phải thâm canh, tăng vụ và phát triển công nghiệp chế biến tại chỗ. Đây là căn cứ khoa học cho chiến lược công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn Việt Nam.

Vì sao chuyển dịch cơ cấu lao động cần hướng mạnh vào nhóm ngành dịch vụ? Ngành dịch vụ có tính co giãn việc làm cao và khả năng hấp thụ nguồn nhân lực đa dạng. Thực tế giai đoạn 1996-2000, lao động dịch vụ tăng trưởng 7,36%/năm, đạt 8,79 triệu người, chứng minh đây là kênh giải quyết việc làm hiệu quả nhất bên cạnh công nghiệp.

Kinh nghiệm quốc tế nào từ Trung Quốc có giá trị ứng dụng cao nhất cho Việt Nam? Đó là chính sách ly nông bất ly hương thông qua phát triển các doanh nghiệp hương trấn và tiểu thủ công nghiệp tại chỗ. Chính sách này giúp Trung Quốc giảm nhanh tỷ trọng lao động nông nghiệp từ 70% xuống 50% mà không gây áp lực quá tải hạ tầng đô thị.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu với 5 kết luận cốt lõi:

  • Khẳng định tiến trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ 69,80% nông nghiệp năm 1996 xuống 62,56% năm 2000 là bước chuyển dịch đúng quy luật khách quan nhưng tốc độ còn chậm.
  • Nhận diện rõ điểm nghẽn lớn nhất của nguồn nhân lực là gần 84,49% lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật và cơ cấu đào tạo bị lệch pha nghiêm trọng.
  • Hệ thống hóa thành công khung lý thuyết phát triển kinh tế hai khu vực và quy luật tăng năng suất lao động áp dụng sát hợp vào thực tiễn Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kinh tế đột phá nhằm đạt mục tiêu giảm lao động nông nghiệp xuống dưới 50% và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 38% đến 40% vào năm 2010.
  • Cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp các cơ quan quản lý hoạch định chính sách đầu tư vốn gắn liền với phân bổ lại nguồn nhân lực quốc gia.

Đóng góp lớn nhất của công trình là xây dựng mô hình giải pháp đồng bộ kết hợp giữa đào tạo nghề, phát triển công nghiệp nông thôn và điều tiết thị trường lao động. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2001 đến 2010, các cấp quản lý cần khẩn trương hiện thực hóa các chính sách phân bổ vốn đầu tư và chuẩn hóa hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn diện số liệu chi tiết trong luận văn để ứng dụng vào công tác thực tiễn và phát triển các đề tài kinh tế chuyên sâu.