Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về hoạt động mở rộng cho vay đối với các DNVVN. Chương 3: Thực trạng mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình. Chương 4: Nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP An Bình.
Chương 5: Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP An Bình. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 2.1 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 2.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, thế nào là DNVVN là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng quốc gia và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó mỗi nước lại chọn cho mình những tiêu chí khác nhau để phân chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn và DNVVN sao cho phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển.1: Tiêu chí phân loại DNVVN của một số quốc gia và khu vực Số lao Quốc gia/ động Phân loại DN vừa và nhỏ Vốn đầu tư Doanh thu Khu vực bình quân A. NHÓM CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN 1.
Hoa kỳ Vừa và nhỏ 0-500 Không quy định Không quy định Không quy định - Đối với ngành sản xuất 1-300 ¥ 0-300 triệu 2. Nhật - Đối với ngành thương mại 1-100 ¥ 0-100 triệu - Đối với ngành dịch vụ 1-100 ¥ 0-50 triệu Siêu nhỏ < 10 Không quy định Không quy định 3. EU Nhỏ < 50 < €7 triệu Vừa < 250 < €27 triệu 4. Australia Vừa và nhỏ < 200 Không quy định Không quy định Nhỏ < 100 Không quy định < CDN$ 5 triệu 5.
Canada Vừa < 500 CDN$ 5 -20 triệu 6. New Vừa và nhỏ < 50 Không quy định Không quy định Zealand 7. Korea Vừa và nhỏ < 300 Không quy định Không quy định 8. Taiwan Vừa và nhỏ < 200 < NT$ 80 triệu < NT$ 100 triệu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
NHÓM CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Vừa và nhỏ Không < Baht 200 triệu Không quy định 1. Thailand quy định - Đối với ngành sản xuất 0-150 Không quy định RM 0-25 triệu 2. Vừa và nhỏ < 200 Peso 1,5-60 triệu Không quy định Philippine 4. Vừa và nhỏ Không < US$ 1 triệu < US$ 5 triệu Indonesia quy định 5.Brunei Vừa và nhỏ 1-100 Không quy định Không quy định C.
NHÓM CÁC NƯỚC KINH TẾ ĐANG CHUYỂN ĐỔI Nhỏ 1-249 Không quy định Không quy định 1. Russia Vừa 250- 999 Nhỏ 50-100 Không quy định Không quy định 2. China Vừa 101- 500 Nhỏ < 50 Không quy định Không quy định 3. Poland Vừa 51-200 Siêu nhỏ 1-10 Không quy định Không quy định 4.
Hungary Nhỏ 11-50 Vừa 51-250 Nguồn: 1) Doanh nghiệp vừa và nhỏ, APEC, 1998; 2) Định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, UN/ECE, 1999; 3) Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ, OECD, 2000 Bảng 1.1 cho thấy, hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô. Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn. là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ. Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát.
nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp. Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia. Số liệu ở bảng 1.1 cũng cho thấy, đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3 tiêu thức đánh giá trên, đặc biệt là nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi. Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên.
Một số ít quốc gia sử dụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu. Ngày 30/06/2009, Chính phủ ban hành nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ được phân chia dựa theo các tiêu chí: Quy mô vốn, Quy mô về số lao động và khu vực. Theo đó, khái niệm DNVVN được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 2.2: Tiêu chí phân loại DNVVN theo nghị định 56/2009/NĐ-CP Doanh nghiệp Quy mô Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Khu vực Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động vốn vốn I. Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và xuống xuống người đến đồng đến 100 người đến thủy sản 200 người tỷ đồng 300 người II.
Công 10 người trở 20 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và xuống xuống người đến đồng đến 100 người đến xây dựng 200 người tỷ đồng 300 người III. Thương 10 người trở 10 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch xuống xuống người đến 50 đồng đến 50 người đến vụ người tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ 2.1 Những lợi thế của DNVVN trong hoạt động Thứ nhất, DNVVN có tính linh hoạt trong chuyển đổi hoạt động kinh doanh. Nhiều nhà kinh tế học cho rằng “nhỏ là tốt”. Khẳng định này xuất phát từ tính linh hoạt trong chuyển đổi sản xuất của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Đây là lợi thế mà các doanh nghiệp lớn không có được. Nhờ tính linh hoạt trong kinh doanh mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ lấp các khoảng trống của thị trường, có khả năng chống đỡ được những cú sốc của khủng hoảng kinh tế. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chọn những ngành nghề như kinh doanh thực phẩm, may mặc, nông sản là những ngành nghề hầu như ít bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế. Khi khủng hoảng kinh tế, người tiêu dùng có thể không mua nhà, ô tô, các các hàng hoá thông thường khác, nhưng không thể không ăn uống và ăn mặc.
Thứ hai, lựa chọn các ngành nghề kinh doanh có lợi nhuận cao. Qui mô nhỏ dẫn đến tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ đó là lợi thế của các DNVVN mà các doanh nghiệp lớn không có được. Nên các ngành kinh doanh ăn uống, lương thực thực phẩm, thời trang, may mặc, và những sản phẩm tiêu dùng là những sản phẩm thế mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thứ ba, vốn đầu tư ban đầu ít.
Vốn đầu tư ban đầu ít nhưng hiệu quả cao, thu hồi nhanh, điều đó tạo sức hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh cũng như mọi thành phần kinh tế vào khu vực này. Thứ ba, khả năng sáng tạo cao và là thành viên chính của công nghiệp phụ trợ. Những doanh nghiệp lớn như Google, Microsoft, Honda, Hoàng Anh Gai Lai xuất phát từ những doanh nghiệp nhỏ. Những ý tưởng kinh doanh luôn xuất phát từ những doanh nghiệp nhỏ có tinh thần khởi nghiệp cao, biết tiếp cận thị trường và luôn đổi mới để phát triển.
Và điều đặc biệt quan trọng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ chiếm đa số. Các doanh nghiệp như Honda, Canon tại Việt Nam sẽ có chi phí cao nếu không có các sản phẩm gia công từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam phục vụ như là vệ tinh của các doanh nghiệp lớn này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Những bất lợi đối với hoạt động của DNVVN Thứ nhất, điều hành theo phong cách gia đình. Đa số các DNVVN là doanh nghiệp cá nhân hay gia đình, nên việc điều hành chủ yếu từ các thành viên gia đình nên sẽ không có khả năng thu hút những nhà quản lý giỏi nếu không thể thoát ra khỏi kiểu điều hành gia đình.
Đa số các nhà điều hành DNVVN đều thiếu kiến thức quản lý và những kỹ năng cần thiết để quản lý doanh nghiệp có qui mô. Nên những DNVVN khi phát triển lớn hơn thì việc chuyển sang công ty cổ phần đại chúng và cần có chính sách thu hút các nhà quản lý chuyên nghiệp là cần thiết. Thứ hai, thiếu vốn và khó tiếp cận các nguồn vốn chính thức. Xuất phát điểm của các DNVVN là vốn ít.
Tại Việt Nam, để đầu tư mở rộng sản xuất cần vay vốn phải có tài sản thế chấp. Cơ chế tiếp cận vốn theo kiểu trên đã là rào cản để các DNVVN có nguồn lực tài chính để phát triển. Thứ ba, không có lợi thế kinh tế theo qui mô. Hiệu quả kinh tế theo qui mô làm cho DN giảm chi phí sản xuất và kinh doanh dễ dàng hơn so với các đối thủ, nhờ đó khả năng cạnh tranh trên thương trường thông qua chính sách giá là một ưu thế.
Các DNVVN không thể cạnh tranh dựa trên chi phí, mà cần tập trung vào chiến lược khác biệt và khai thác chênh lệch giá thông qua giảm chi phí vận chuyển và tạo sự thuận lợi trong bán hàng hơn là cạnh tranh trực diện với các doanh nghiệp lớn. Thứ tư, các DNVVN thường gắn với công nghệ lạc hậu và thủ công. Đa số các DNVVN là DN gia đình nên địa điểm sản xuất kinh doanh nằm trong khu vực dân cư. Việc gây ra ô nhiểm về khói bụi, nước thải, tiếng ồn là điều không tránh khỏi.
Thứ năm, thiếu thông tin thị trường, yếu trong hội nhập và khó tham gia chuỗi thị trường của các ngành hàng. Các DNVVN không đủ nguồn lực để có thông tin đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Ngay cả, việc sử dụng mạng xã hội và mạng internet để tiếp cận thị trường vẫn còn là điểm yếu của các DNVVN.