PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh toàn cầu hóa về kinh tế xã hội, thị trường lao động Hàn Quốc đã trở thành một trong những thị trường lao động năng động với quy mô nhập khẩu lao động lớn. Từ những năm 2000, trên thị trường lao động Hàn Quốc đã tồn tại nhiều thành phần người lao động nước ngoài. Trong đó, bộ phận người lao động nước ngoài tại thị trường lao động của quốc gia này có thể khái quát thành những đặc điểm chính như sau.
Đặc điểm đầu tiên là đa dạng về quốc tịch. Trong những năm 2010, Hàn Quốc nhập khẩu lao động đến từ nhiều quốc gia trên thế giới và chủ yếu là lao động đến từ khu vực Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Đặc điểm tiếp theo là đa dạng về tư cách lưu trú của người lao động nước ngoài. Bên cạnh đó là tồn tại những vấn đề phức tạp đối với việc quản lí thị trường lao động liên quan tới nhóm này.
Trong đó, đáng chú ý phải phải kể tới vấn đề người lao động nước ngoài tham gia các hoạt động lao động một cách bất hợp pháp. Vấn đề lao động bất hợp pháp của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc, trong đó có lao động Việt Nam là vấn đề được chính phủ Hàn Quốc và Việt Nam đặc biệt quan tâm. Bên cạnh những đối tượng nhập cảnh vào Hàn Quốc theo visa lao động, thì còn có những đối tượng nhập cảnh với tư cách khác (không theo diện visa lao động) nhưng được phép tham gia vào các hoạt động lao động trong giới hạn nhất định theo quy định của pháp luật. Trong đó, có nhóm nhập cảnh theo các chương trình đào tạo như du học sinh, tu nghiệp sinh, và đáng chú ý như nhóm nhập cảnh và lưu trú dưới diện visa D-4-1.
Visa D-4-1 được hiểu là một loại giấy phép nhập cảnh được cấp phát dành cho những đối tượng nhập cảnh vào Hàn Quốc theo chương trình học tiếng Hàn (hay còn được hiểu là du học sinh theo chương trình học tiếng Hàn). Cùng với việc du học sinh nước ngoài tại Hàn Quốc đang gia tăng, thì ngày càng tồn tại nhiều vấn đề liên quan tới nhóm du học sinh người nước ngoài nói 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chung và nhóm du học sinh người Việt Nam nói riêng, đặc biệt là nhóm lao động du học sinh lưu trú dưới diện visa D-4-1 tại Hàn Quốc. Những vấn đề như: làm việc với thời gian vượt quá quy định của pháp luật, hay lao động mà không đăng ký cấp phép hoạt động ngoài tư cách lưu trú, bỏ trốn để lao động bất hợp pháp, vấn đề du học sinh bị lừa đảo và bị lợi dụng vì tâm lí mong muốn vừa đi học vừa đi làm. là những vấn đề được các cơ quan chính sách quan tâm và được các phương tiện truyền thông khai thác đưa tin.
Những vấn đề này đặt ra bài toán về quản lí cũng như bảo vệ lợi ích của cả 2 phía là quốc gia Hàn Quốc và nhóm lao động du học sinh nước ngoài. Đối với Hàn Quốc, việc du học sinh bỏ trốn và lao động bất hợp pháp đã và đang gây ra những khó khăn trong quản lí thị trường lao động. Đối với lao động - du học sinh, đó là nguy cơ bị lừa đảo và bóc lột. Theo đó, hoạt động lao động của nhóm du học sinh nói chung và du học sinh Việt Nam lưu trú diện visa D- 4-1 tại Hàn Quốc nói riêng đã trở thành vấn đề được quan tâm đối với cả Hàn Quốc và Việt Nam.
Lịch sử nghiên cứu Thị trường lao động Hàn Quốc và vấn đề quản lí người lao động ở thị trường này là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của chính phủ, báo chí truyền thông và cả các nhà nghiên cứu. Theo đó, có nhiều chính sách pháp luật, các bài viết và các nghiên cứu liên quan tới vấn đề này. Trong đó, có thể phân chia thành các nhóm nội dung như sau. Đầu tiên là nhóm về phân tích chính sách pháp luật liên quan tới thị trường lao động và người lao động nước ngoài ở Hàn Quốc.
Tiếp theo là nhóm nghiên cứu về thực trạng và giải pháp cho các vấn đề liên quan tới thị trường lao động và người lao động nước ngoài ở Hàn Quốc. Bên cạnh đó, nếu xét theo phạm vi của từng quốc gia, thì mỗi quốc gia có những hướng nghiên cứu tập trung riêng. a) Nhóm nghiên cứu về chính sách pháp luật liên quan tới thị trường lao động và người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc Đối với nhóm nghiên cứu về chính sách pháp luật, các nghiên cứu nổi bật chủ yếu bằng tiếng Hàn và có thể nêu ra một số nghiên cứu như sau. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tháng 7/2015, nhà nghiên cứu Choi Hong-yeop đến từ trường Đại học Choseon đã công bố nghiên cứu với chủ đề “Phân tích những tranh luận liên quan tới người lao động nước ngoài nhập cảnh theo chương trình xuất khẩu lao động – lấy khai báo biến động tuyển dụng làm trọng tâm”(고용허가제로 입국한 외국인근로자 관련 쟁점 분석- 고용변동신고를 중심으로).
Bài nghiên cứu đi vào phân tích những nội dung pháp lí liên quan tới tuyển dụng và sử dụng lao động nước ngoài ở Hàn Quốc, phân tích những vấn đề tranh luận liên quan tới lao động nước ngoài nhập cảnh vào Hàn Quốc theo chế độ xuất khẩu lao động. Giáo sư Choi Chang-gui đến từ Khoa Luật trường Đại học Seoul đã thực hiện nghiên cứu với đề tài “Tiền lệ xử án quan trọng theo Luật lao động năm 2010” (2010 년 노동법 중요 판례). Bài nghiên cứu của giáo sư Choi Chang-gui dựa trên cở sở phân tích những tiền lệ về phán xử các vụ việc liên quan tới Luật lao động để đưa ra những đánh giá về kết quả của những phán quyết đó. Theo đó, giúp chỉ ra những khiếm khuyết về mặt quy định pháp lý khi áp dụng vào giải quyết các tình huống thực tế.
Vào năm 2016, luận văn thạc sĩ của học viên Bùi Thị Bích Ngọc dưới sự hướng dẫn của giáo sư Kim Kwang-soo đến từ trường Đại học Dae-shin đã được công bố với đề tài “Nghiên cứu về chính sách và nhận thức về vấn đề xin việc và điều kiện làm việc của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc (trọng tâm là người lao động Việt Nam)” (한국거주 외국인 근로자의 근로조건과 취업에 대한 인식 및 대책에 관한 연구 : 베트남 근로자를 중심으로). Luận văn này lấy đối tượng nghiên cứu chính là những người lao động Việt Nam cư trú tại Hàn Quốc, đã đưa ra những kết quả nghiên cứu chính như sau. Thứ nhất, trong số lao động Việt Nam tại Hàn Quốc, thì tỉ lệ nam giới nhiều hơn nữ giới và chủ yếu là những người trẻ tuổi nằm trong độ tuổi từ 20 đến 30 tuổi và thời gian lưu trú của họ ở Hàn Quốc thường từ 3- 4 năm. Thứ hai, về sinh hoạt, thì họ thường ở trong phòng trọ khép kín hoặc ở kí túc xá.
Thứ ba, vấn đề kí kết hợp đồng tại nơi đang làm việc cũng rất đa dạng. Tùy từng nơi tuyển dụng mà điều kiện lao động của người lao động sẽ bị ảnh hưởng, tức sẽ có những nơi tuyển dụng thường vi phạm các nội dung trong hợp đồng tuyển dụng như 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các thỏa thuận về tiền lương và thời gian làm việc. Thứ tư, người lao động Việt Nam tại Hàn Quốc phải đối mặt với những vấn đề như bị bạo hành, xâm phạm nhân quyền và xâm phạm lợi ích. Nghiên cứu này tập trung vào những vấn đề tiêu cực liên quan tới người lao động Việt Nam tại Hàn Quốc, nhưng chưa có sự phân biệt rõ ràng từng nhóm đặc thù trong số các đối tượng điều tra.
Ví dụ như có bao nhiêu người là người lao động hiện đang lưu trú theo visa lao động, có bao nhiêu người đang lưu trú theo visa khác visa lao động nhưng đang tham gia vào các hoạt động lao động kiếm tiền, có bao nhiêu người lao động đang lưu trú và lao động bất hợp pháp. Theo đó, nghiên cứu không đi vào thể hiện rõ đặc điểm riêng của từng nhóm trong số những người Việt Nam đang tham gia hoạt động lao động tại Hàn Quốc, thể hiện những khác biệt về quyền lợi, phạm vi hoạt động theo quy định pháp luật và nguy cơ phải đối mặt với các vấn đề của từng nhóm đó. Vào năm 2018, thạc sĩ Lee Jeong-mi đã đưa ra luận án tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tới ý đồ lưu trú bất hợp pháp của người lao động nước ngoài(visa E-9)”(외국인근로자(E-9)의 불법체류의도 영향요인에 관한 연구). Nghiên cứu này đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới ý định lưu trú và lao động bất hợp pháp của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc, cụ thể như sau.
Thứ nhất, về yếu tố chính sách, ý thức đám đông có ảnh hưởng ngày càng lớn thì tỉ lệ lưu trú bất hợp pháp càng cao, nhưng chính phủ cùng những chính sách được đưa ra lại chưa thể đem lại sức ảnh hưởng đáng chú ý. Thứ hai, về yếu tố nội dung chính sách, những quy định xử phạt càng có tính răn đe mạnh mẽ thì tỉ lệ lưu trú bất hợp pháp càng thấp, tuy nhiên tính nhất quán trong chính sách đưa ra và xử phạt thực tế còn chưa đem lại nhiều hiệu quả. Thứ ba, về cơ quan thi hành chính sách, thì các cơ quan liên quan chưa có những hoạt động đem đến tác động thực sự lớn tới việc nhận thức và quyết định của người lao động nước ngoài tại Hàn Quốc liên quan đến lưu trú bất hợp pháp. Thứ tư, ảnh hưởng của các yếu tố trên đối với ý định lưu trú bất hợp pháp của người lao động nước ngoài thể hiện ở những mức độ khác nhau.
Nghiên cứu này được tiến hành chủ yếu dựa trên điều tra và phỏng vấn thực tế để triển khai, giúp đưa ra những tài liệu để làm căn cứ đánh giá về tính hiệu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quả của chính sách pháp luật hiện hành và định hướng bổ sung nội dung chính sách liên quan tới vấn đề lao động nước ngoài lưu trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng lựa chọn đối tượng nghiên cứu tập trung là nhóm lao động nước ngoài theo visa E-9.