Mở đầu Phần II: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần III: Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần V: Các giải pháp. e 7 Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái niệm VQG, vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG 2. Khái niệm về Vườn Quốc gia (VQG) Theo Quyết định số 62 /2005/QĐ-BNN ngày 12 tháng 10 năm 2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [1]: Vƣờn quốc gia là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nƣớc/biển, có diện tích đủ lớn để thực hiện mục đích bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trƣng hoặc đại diện khỏi bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc bị đe dọa cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Vƣờn quốc gia là nền tảng cho các hoạt động tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và các hoạt động du lịch sinh thái đƣợc kiểm soát và có ít tác động tiêu cực. Theo Liên Minh Quốc tế Bảo Tồn Thiên Nhiên Và Tài Nguyên Thiên Nhiên (IUCN) : Vƣờn quốc gia: là một khu vực đất hay biển đƣợc bảo tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại. Vƣờn quốc gia đƣợc bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp bởi con ngƣời. Vƣờn quốc gia thƣờng đƣợc thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động – thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần đƣợc bảo vệ nghiêm ngặt trƣớc sự khai thác của con ngƣời.
Các vƣờn quốc gia là một khu vực đƣợc bảo vệ theo quy định của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế ( IUCN) loại II [15]. Khái niệm về vùng đệm * Khái niệm về vùng đệm trên thế giới Tƣ duy về khái niệm quản lý vùng đệm đã phát triển qua 3 giai đoạn trên thế giới nhƣ sau: e 8 – Giai đoạn đầu: Các vùng đệm chủ yếu đƣợc xác định nhƣ là những phƣơng tiện bảo vệ con ngƣời và mùa màng để tránh sự tấn công và phá hoại của động vật sống trong các khu bảo tồn và rừng. – Giai đoạn kế tiếp (10-20 năm trƣớc đây): Các vùng đệm đã đƣợc xem nhƣ là những phƣơng cách để bảo vệ các khu bảo tồn tránh khỏi những tác động tiêu cực của con ngƣời. – Giai đoạn hiện nay: Vùng đệm thƣờng đƣợc áp dụng đồng thời cho việc giảm thiểu các hoạt động của con ngƣời lên các khu bảo tồn với việc hƣớng tới những nhu cầu và mong muốn về kinh tế – xã hội dƣới tác động của dân số (những đối tƣợng sử dụng tài nguyên của KBT trƣớc đây).
Hiện tại chƣa có một định nghĩa chung về vùng đệm trên phạm vi toàn thế giới mà chỉ có các định nghĩa và sự mô tả khác nhau về vùng đệm ở cấp quốc gia hoặc tổ chức quốc tế, chẳng hạn: Chƣơng trình con ngƣời và sinh quyển của UNESCO đã đƣa ra khái niệm vùng đệm ở mức độ cấu trúc. Sơ đồ cấu trúc của KBT của UNESCO gồm 3 vùng sau: + Vùng hạt nhân + Vùng đệm sơ cấp + Vùng đệm thứ cấp Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN định nghĩa vùng đệm như sau: ” Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của KBT và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của KBT và chính vùng đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh KBT. Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế – xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm” [15]. e 9 Khái niệm vùng đệm được thể chế hoá trong Quyết định số 08/2001/ QĐ – TTg của Chính phủ như sau: “Vùng đệm là vùng rừng hoặc vùng đất đai, mặt nước nằm sát ranh giới với các VQG và Khu BTTN; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng.
Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ”. Một lần nữa vùng đệm đƣợc xác định nằm ngoài KBT và không thuộc KBT [13]. - Vùng đệm đƣợc hình thành dựa theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng [4] thì Điều 3 Khoản 15 nêu: “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với khu rừng đặc dụng, có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm hại khu rừng đặc dụng”; Theo Luật Đa dạng sinh học [5] quy định tại Điều 3, Khoản 30 thì “Vùng đệm là vùng bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với khu bảo tồn”; Đến năm 2006, ranh giới vùng đệm với đƣợc quy định trong Quyết định 186/2006/QĐ - TTg tại Điều 24, Khoản 2 “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên” [ 11]. Theo Quyết định này vùng đệm đƣợc chia thành 2 loại chính: Vùng đệm có dân sinh sống và vùng đệm không có dân sinh sống.
Vị trí vùng đệm: nằm liền kề ngoài VQG, bao quanh VQG và không thuộc VQG. – Xác định ranh giới vùng đệm: Gồm ranh giới phía bên trong và phía bên ngoài vùng đệm: e 10 + Ranh giới phía bên trong vùng đệm: là ranh giới giữa VQG và vùng đất đai bao quanh VQG. + Ranh giới phía bên ngoài vùng đệm: là ranh giới giữa vùng đất bao quanh VQG với vùng đất không trực tiếp bao quanh VQG; ranh giới đó thƣờng đƣợc xác định bởi các mốc tự nhiên hoặc do con ngƣời tạo ra nhƣ: vách núi, đƣờng mòn, đƣờng ô tô, đƣờng sông, đƣờng sắt, các con suối, hồ chứa nƣớc… 2. Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững Sinh kế: sinh kế là một khái niệm rộng bao gồm các phƣơng tiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, và văn hóa mà các cá nhân, gia đình hoặc nhóm xã hội sỡ hữu để tạo ra thu nhập hoặc có thể sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ.
Sinh kế bền vững: năm 1992 Chambers và Gordo đƣa ra khái niệm về sinh kế bền vững ở cấp độ gia đình: “Một Sinh kế bền vững có thể đối phó với những rủi ro và những cú sốc duy trì và tăng cƣờng khả năng và tài sản, đồng thời cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ sau góp phần tạo ra lợi ích cho cộng đồng, địa phƣơng và toàn cầu, trong ngắn và dài hạn. Sinh kế bền vững cung cấp một phƣơng pháp tiếp cận tích hợp chặt chẽ với vấn đề nghèo đói“ [17]. Tài sản sinh kế: Tài sản sinh kế gồm 5 loại: - Nguồn lực con ngƣời: bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục từng cá nhân và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng làm việc của họ để đạt đƣợc những kết quả sinh kế. - Nguồn lực xã hội: đề cập đến mạng lƣới và mối quan hệ xã hội, các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng nhƣ phi chính thức mà con ngƣời tham gia để từ đó có đƣợc những cơ hội và lợi ích khác nhau.
e 11 - Nguồn lực tự nhiên: là các cơ sở các nguồn tự nhiên ( của một hộ hoặc một cộng đồng ) mà con ngƣời trông cậy vào, ví dụ nhƣ đất đai, mùa màng, vật nuôi, rừng, nƣớc và các nguồn tài nguyên biển. - Nguồn lực tài chính: là các nguồn lực tài chính mà con ngƣời có đƣợc nhƣ nguồn thu thập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng thu nhập tiền mặt khác nhƣ lƣơng hƣu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp của nhà nƣớc. - Nguồn lực vật chất: bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản và các tài sản của hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế nhƣ giao thông, hệ thống cấp nƣớc và năng lƣợng, nhà ở và các đồ dùng, dụng cụ trong gia đình. Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ Khái niệm Hộ: Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm ngƣời ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu).
Đối với những hộ có từ 2 ngƣời trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung. Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những ngƣời trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dƣỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai. Hộ Nông Dân: Hộ Nông Dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn. Kinh Tế Hộ: là hình thức tỏ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội trong đó các nguồn lực nhƣ đất đai, tiền vốn và tƣ liệu sản xuất đƣợc coi là của chung để tiến hành sản xuất.
Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất-kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, đƣợc nhà nƣớc thừa nhận hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển [18]. Những chủ chương, chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội các vùng đệm VQG Chương trình 135 đến Chương trình giảm nghèo nhanh, bền vững ở 62 huyện nghèo: khoản 4 điều 1 theo quyết định số 551/QĐ – TTg của thủ tướng Chính Phủ 4.