CHƯƠNG I. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu. Vị trí địa lý.
Thủy Nguyên là huyện ven đô, nằm ở cửa ngõ phía Bắc của thành phố Hải Phòng, có 35 xã, 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 26.186,7ha, dân số 334. Sông Giá có chiều dài 19 km kéo dài từ khu vực Phi Liệt (xã Lại Xuân) đến đập Minh Đức (thị trấn Minh Đức), có trữ lượng nước lớn, là con sông đang trực tiếp phục vụ nước tưới tiêu cho khoảng 12.400 ha đất canh tác nông nghiệp, 600 ha nuôi trồng thủy sản, là nguồn cấp nước sinh hoạt cho hơn 300 nghìn người dân huyện Thủy Nguyên và cho các nhà máy, khu công nghiệp. Vị trí địa lý của sông Giá b. Đặc điểm địa hình KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Địa hình Thủy Nguyên khá đa dạng, dốc từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam, vừa có núi đất, núi đá vôi rải rác và xen kẽ đồng bằng và hệ thống sông hồ dày đặc.
Điều kiện về khí tượng thủy văn * Chế độ bức xạ Bức xạ mặt trời là nhân tố có vai trò quyết định nền tảng của khí hậu khu vực. Do nằm trong vùng nội chí tuyến Bắc, vào mùa hè hàng năm khu vực nghiên cứu có 2 lần mặt trời đỉnh. Lần thứ nhất vào ngày 24/5 và lần thứ hai vào ngày 21/7 nghĩa là vào trước và sau ngày hạ chí (21/6 hoặc 22/6) gần một tháng. Độ cao mặt trời tại khu vực đạt giá trị lớn nhất vào cuối tháng 5 và cuối tháng 7, do vậy tổng lượng bức xạ cũng đạt giá trị cao nhất vào tháng 5 (12,25 Kcal/cm2) và tháng 7 (11,29 Kcal/cm2)(Nguyễn Mạnh Cương, 1990).
Tháng thấp nhất là tháng 2, lượng bức xạ đạt (5,84 Kcal/cm2). Trung bình hàng năm lượng bức xạ thực tế của khu vực là 105 - 115 Kcal/cm2 do phải trừ lượng thất thoát bởi hiệu ứng hấp thụ, khuếch tán của khí quyển và phản xạ của mặt trời. Cán cân bức xạ cả năm có giá trị dương. * Hoàn lưu khí quyển Hoàn lưu khí quyển khu vực nghiên cứu gồm 2 hoàn lưu chính là hoàn lưu gió mùa (mùa đông và mùa hè).
Ngoài ra, giữa hai mùa hoàn lưu có một thời gian chuyển tiếp ngắn khoảng một tháng. - Hoàn lưu gió mùa đông bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Khi di chuyển đến khu vực dự án, khối không khí này có nhiệt độ trung bình 14 - 160C, độ ẩm tương đối 70 - 80%, độ ẩm riêng trung bình 7 -8 g/kg. - Hoàn lưu gió mùa, mùa hè kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9 gồm 4 khối chính sau: + Khối không khí nhiệt đới thịnh hành vào tháng 5 và tháng 6 với bản chất nóng ẩm và phát triển trên một lớp không khí dày 4 -5 km kể từ mặt đất.
Khi di chuyển đến khu vực dự án, khối không khí có nhiệt độ trung bình 30 - 320C, cao nhất 37 - 400C; độ ẩm không khí thấp dưới 50% gây ra thời tiết khô nóng và hạn hán. + Khối không khí xích đạo thịnh hành vào tháng 7 và tháng 8 có bản chất nóng và ẩm. Nhiệt độ trung bình 27 -290C nhiệt độ cao nhất 34 -350C, độ ẩm trung bình xấp xỉ 85%. Khối không khí xích đạo di chuyển và xâm lấn thường KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP phát sinh ra nhiễu động thời tiết đặc biệt như mưa hội tụ nhiệt đới kéo dài gây lũ lụt, đặc biệt là hình thành mưa rào và giông mạnh về chiều và sáng sớm; có khi gây mưa đá.
+ Khối không khí cực đới thịnh hành vào mùa hạ gây mưa rào, thời tiết mát trong một vài ngày. - Hoàn lưu chuyển tiếp mùa. Giữa hai mùa hoàn lưu là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu với thời gian mỗi kỳ xấp xỉ 1 tháng xảy ra vào tháng 4 và tháng 10. Trong các thời kỳ này, hình thái khí áp mặt đất ở dạng trung gian, các khối không khí mùa đông và mùa hè cùng tranh giành ảnh hưởng, nên dễ gây ra sự cố hội tụ về gió là nhân tố cơ bản để hình thành giông, lốc, vòi rồng hoặc mưa đá, phổ biến vào tháng 4 và các tháng đầu mùa hè.
* Chế độ gió Chế độ gió khu vực trình bày bảng sau Bảng 1. Tốc độ gió tại trạm sông Giá Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tốc độ gió TB 4,9 4,8 4,1 4,9 5,7 5,9 6,1 4,8 4,8 4,8 5,2 4,8 (m/s) Tốc độ gió mạnh nhất đã 24 20 28 40 34 40 45 45 45 28 24 30 xuất hiện (m/s) [Nguồn trạm thuỷ văn sông Giá] * Tầm nhìn xa và sương mù Sương mù trong năm thường tập trung vào các tháng mùa Đông, bình quân năm là 24 ngày, tháng có sương mù nhiều nhất là tháng 3 có 8 ngày. Các tháng mùa Hè hầu như không có sương mù Do ảnh hưởng của sương mù nên tầm nhìn xa bị hạn chế, số ngày có tầm nhìn dưới 1 km thường xuất hiện và các tháng mùa đông, có các tháng mùa hè thì hầu như tầm nhìn xa đều trên 10 km. Số ngày có tầm nhìn xa tại trạm sông Giá Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Cả năm KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP <1km 0,3 0,4 0,4 1,2 0,4 0 0 0 0 0 0 0 1,8 1- 2,3 2,4 4,3 2,5 0,4 0,5 0,7 0,9 1,1 0,5 0,8 1,5 16,6 10km >10km 29 25 26 27 31 30 30 30 29 31 29 30 347 (Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, 2022) * Độ bền vững khí quyển Độ bền vững khí quyển được xác định theo tốc độ gió và bức xạ mặt trời vào ban ngày và độ che phủ mây vào ban đêm.
Khu vực nghiên cứu ,có lượng mây trung bình năm vào khoảng 7,5/10. Thời kỳ nhiều mây nhất là cuối mùa đông mà tháng cực đại là tháng III, lượng mây trung bình là 9/10, ít nhất là tháng IV, tháng đạt cực tiểu là X, XI, lượng mây trung bình chỉ 6/10. Phân loại độ bền vững khí quyển được thể hiện trong bảng sau: Bảng 1. Phân loại độ bền vững khí quyển (Pasquill, 1961) Bức xạ mặt trời ban ngày Độ mây ban đêm Tốc độ gió Mạnh Trung Yếu tại độ cao (Độ cao bình (Độ (Độ cao Nhiều mây It mây <4/8 10 m (m/s) mặt trời cao mặt mặt trời >4/8 >60) trời 35-60) 15-35) <2 A A-B B - - 2-3 A-B B C E F 3-5 B B-C C D E 5-6 C C-D D D D >6 C D D D D • Bão và nước dâng do bão - Bão và áp thấp nhiệt đới.
Bão và áp thấp nhiệt đới là những xoáy không khí khổng lồ, có tốc độ gió xoáy rất mạnh kèm theo mưa lớn. Áp thấp nhiệt đới có gió mạnh cấp 6, cấp 7 (tương đương với tốc độ 39 – 61 km/h). Bão có gió mạnh lớn hơn từ cấp 8 tới cấp 12 (tương đương với tốc độ 39 – 62 -118 km/h). KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Bão lớn có thể mạnh trên cấp 12 (trên cấp 118 km/h).
Bão và áp thấp nhiệt đới thường đổ bộ vào khu vực nghiên cứu từ tháng 6 tới tháng 10, tập trung từ tháng 7 tới tháng 9 với tần suất 78%. Mỗi năm tại khu vực nghiên cứu có thể có 1 đến 2 cơn bão đổ bổ trực tiêp và bị ảnh hưởng bởi 3 cơn bão khác đổ bộ vào vùng lân cận. Bão đổ bộ vào trực tiếp thường có tốc độ mạnh 30 – 40 m/s (tương đương 110 -140 km/h). Khi gió quật mạnh có thể trên 50 m/s (180 km/h) lượng mưa kèm theo trong bão thường là 100 -200 mm.
Bão gián tiếp đổ bộ vào vùng lân cận từ Quảng Ninh đến Nghệ An, tại khu vực nghiên cứu có gió mạnh cấp 5- 7 nhưng lượng mưa có thể lên tới 200 mm. d) Đặc điểm chế độ thủy văn • Thủy văn sông Theo tài liệu thực tế quan trắc đo đạc một chu kỳ triều tại sông Giá của trạm khí tượng thủy văn sông Giá năm 2022 cho thấy: - Mùa kiệt: lưu lượng lớn trung bình khi triều xuống là 4,368 m3/s, tốc độ dòng chảy trung bình là 0,8m/s. Khi triểu lên, lưu lượng lớn nhất trung bình là 4,674 m3/s, tốc độ dòng chảy trung bình là 0,78 m/s. - Mùa lũ: lưu lượng lớn trung bình khi triều xuống là 9,340 m3/s, tốc độ dòng chảy trung bình là 1,62 m/s.
Khi triểu lên, lưu lượng lớn nhất trung bình là 10,012 m3/s, tốc độ dòng chảy trung bình là 0,91 m/s. Bùn cát lơ lửng trong sông thay đổi theo mùa. Về mùa mưa, độ đục trung bình thay đổi từ 53- 215 g/m3 trên sông Giá, về mùa khô, độ đục trung bình đạt tới 700 - 953g/m3. • Thủy triều Biên độ thủy triểu sông Giá được thể hiện tại bảng sau: Bảng 1.
Biên độ thủy triều sông Giá Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Biên độ 375 360 329 318 354 370 372 347 327 363 370 394 triều (Nguồn: Tram quan trắc khí tượng thủy văn Đông Bắc – 2022) e) Đặc điểm tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái khu vực KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP • Tài nguyên sinh vật trên cạn Theo kết quả nghiên cứu của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật tại khu vực xã Gia Minh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng: tại khu vực nghiên cứu, trong hệ sinh thái nông nghiệp, ngoài cây lúc nước là cây chiếm ưu thế tuyệt đối còn có một số loài cỏ sống trên các bờ ruộng, đường đi hoặc sống trên ruộng cùng với lúa. Do tác động của con người nên thành phân các loại động thực vật của hệ sinh thái lúa nước kém phong phú. Về thực vật, ngoài cây lúa là cây chủ đạo còn có cây thân thảo sống một hoặc nhiểu năm như cây cỏ gà, cỏ mần trầu, cỏ may, cỏ gấu. Về động vật, chủ yếu là nhuyễn thể như ốc.
Ngoài ra có thể có tôm, cua, ếch, nhái, chuột đồng, một số loài chim như sáo, chim sẻ, chim chích, chim sâu, cò. Những năm gần đây, do tác động của con người như sử dụng thuốc trừ sâu, đánh bắt một số động vật làm nguồn thực phẩm nên thành phần loài và số lượng của một số loài có xu hướng suy giảm. Ngoài ra trong hệ sinh thái lúa nước còn xuất hiện một số loài côn trùng gây hại cho lúa như sâu đục thân, cào cào, châu chấu. • Hệ sinh thái kênh mương thủy lợi Động thực vật trôi nổi có nhiều trong các kênh mương thủy lợi của khu vực và trên các ruộng lúa.
Phù du thực vật (Phytoplanton) chủ yếu là các loài tảo lục và tảo silic. Phù du động vật (Zooplancton) chủ yếu là các nhóm Cladocera, Copepada.