CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tình hình ô nhiễm nước trên các hệ thống thủy lợi. Cùng với tốc độ phát triển của các ngành sản xuất và dịch vụ, tốc độ gia tăng dân số tập trung ở đô thị, khu công nghiệp.Trong những năm gần đây tình trạng ô nhiễm môi trường diễn biến ngày càng xấu, trong đó ô nhiễm môi trường nước là vấn đề đang được các cấp, các ngành quan tâm. Nước bị ô nhiễm dẫn đến các tính chất hóa, lý thay đổi trở nên độc hại với con người, độc hại với cả vi sinh vật, cây trồng và vật nuôi.
Trong những năm gần đây, chất lượng nước của các hệ thống thủy lợi ở nước ta rất đang lo ngại, vấn đề này đã và đang được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo quyết liệt giải quyết tình trạng này. Từ kết quả điều tra, đánh giá chất lượng nước ở một số hệ thống thủy lợi lớn cho thấy thực trạng chủ yếu như sau: - Tất cả các hệ thống thủy lợi có quy mô lớn đều di qua khu dân cư tập trung, khu công nghiệp, đô thị, làng nghề. Khu vực này hàng ngày thải ra một lượng chất thải rất lớn như chất thải rắn, chất thải công nghiệp (rắn và nước), chất thải sinh hoạt và chất thải nông nghiệp. Lượng chất thải trên không được thu gom, xử lý triệt để làm ảnh hưởng rất xấu đến môi trường lưu vực, đặc biệt là môi trường nước ngầm, nước mặt.
- Mặc dù đã có Pháp lệnh bảo vệ công trình thủy lợi nhưng việc quản lý, vận hành và bảo vệ công trình của các đơn vị quản lý gặp rất nhiều khó khăn. Việc quản lý, bảo vệ công trình chỉ có ngành thủy lợi là chủ yếu, hầu như chưa có sự tham gia tích cực của các ngành khác và đặc biệt là nhân dân, là những người hưởng lợi nhiều nhất cũng như bị ảnh hưởng nhiều nhất liên quan đến công trình thủy lợi. 6 - Việc điều tra, đánh giá chất lượng nước thường xuyên chưa làm được, chỉ có một số Đề tài, dự án nhỏ lẻ mang tính chất nghiên cứu thử nghiệm là chính. Nghiên cứu về ô nhiễm nước mặt.
Trên thế giới cũng như ở Việt nam có nhiều nghiên cứu về tình trạng ô nhiễm môi trường nước sông như ở nước ta. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân như trình độ công nghệ, tài chính, chính sách về sản xuất công nghiệp … nên còn nhiều hạn chế, chưa thể giải quyết tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên các con sông trong thời gian ngắn. * Báo cáo tóm tắt năm 2007 thuộc Dự án Giám sát chất lượng nước trên hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải). Đây là hệ thống công trình thuỷ lợi lớn nhất trong 9 hệ thống thuỷ lợi ở vùng Bắc Bộ với diện tích canh tác gần 135.00 ha thuộc các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và một phần diện tích của thành phố Hà Nội.
Hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải có nhiệm vụ tưới, tiêu và tạo nguồn cho cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và sản xuất của các làng nghề trong khu vực hưởng lợi. Cùng với quá trình hiện đại hoá và phát triển dân số ở khu vực nông thôn, nguồn gây ô nhiễm trên lưu vực Hệ thống Bắc Hưng Hải ngày càng đa dạng và nhiều nơi đã bị ô nhiễm đến mức báo động. Theo số liệu quan trắc chất lượng nước trong hệ thống Bắc Hưng Hải do Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam thực hiện từ năm 2003 đến nay, tại 40 điểm quan trắc trong hệ thống hàm lượng các chất ô nhiễm đều lớn hơn so với mẫu nước tại cống Xuân Quan (nước nguồn vào hệ thống). Tại sông Cầu Bây, trạm bơm Bình Hàn và trạm bơm An Vũ có hàm lượng các chất hữu cơ tính theo COD vượt tiêu chuẩn cấp nước cho nông nghiệp.
Đây là những vị trí bị ảnh hưởng rất lớn của chất thải đô thị, khu công nghiệp và các làng nghề.Tại 25/40 vị trí quan trắc trong hệ thống đều phát hiện thấy 7 hàm lượng NO2 – là sản phẩm của quá trình phân huỷ của các chất hữu cơ chứa đạm vượt tiêu chuẩn nước dùng cho nông nghiệp. Tổng hợp số liệu các lần quan trắc cho thấy hàm lượng các chất vô cơ chênh lệch giữa mùa mưa và mùa khô rất lớn và có xu hướng tăng cao trong mùa mưa, nguyên nhân chủ yếu của sự biến thiên này là do ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ phân huỷ chất hữu cơ; tại hầu hết các vị trí trong hệ thống đều có hàm lượng Coliforms tổng số cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép như tại vị trí cống Báo Đáp, Xuân Thuỷ, Cầu Bây, Đoàn Thượng. Ngoài ra, các điểm quan trắc đều có hàm lượng kim loại nặng cao hơn so với nước nguồn vào hệ thống chứng tỏ ảnh hưởng rất lớn của nguồn chất thải và nước thải từ các làng nghề đến chất lượng nước trong hệ thống. Hiện nay, nước các sông trong hệ thống đều đang bị ô nhiễm ở mức độ trung bình, hầu hết các chỉ tiêu đều đạt tiêu chuẩn nước dùng cho nông nghiệp nhưng không đạt tiêu chuẩn nước cấp cho ăn uống và sản xuất chế biến nông sản thực phẩm; cá biệt có sông Cầu Bây nguồn nước không đạt tiêu chuẩn nước cấp cho nông nghiệp.
Hàm lượng các chất ô nhiễm ở cuối sông đều cao hơn đầu nguồn: chất hữu cơ tăng 2,16 lần, Cl- tăng 1,6 lần, N02 - tăng 4 lần, riêng chất lơ lửng lại có xu hướng giảm xuống so với điểm lấy tại đầu nguồn. Các nghiên cứu về ô nhiễm nước sông Nhuệ. - Điều tra khảo sát diễn biến chất lượng nước, xác định nguồn gây ô nhiễm trong hệ thống thủy nông Sông Nhuệ phục vụ công tác quản lý do Trường Đại học Thủy lợi thực hiện năm 2006. Mục tiêu và sản phẩm chính là tổng kết, đánh giá diễn biến chất lượng của toàn hệ thống trong chuỗi chu kỳ đo đạc 3 năm (2004, 2005, 2006), xác định nguồn gây ô nhiễm trong hệ thống và đề xuất các biện pháp quản lý giảm thiểu ô nhiễm trong hệ thống.
Hoàn chỉnh đánh giá bộ ngân hàng dữ liệu về số lượng, chất 8 lượng nước trên hệ thống kênh, chất lượng nước tại các nguồn gây ô nhiễm theo công nghệ GIS của chuỗi chu kỳ đo đạc 3 năm. Lập bản đồ dự báo nồng độ ô nhiễm trên hệ thống. - Giám sát chất lượng nước trong hệ thống công trình thủy lợi Sông Nhuệ do Trường Đại học Thủy lợi thực hiện năm 2011. Dự án đã nghiên cứu hiện trạng môi trường nước của hệ thống và cảnh báo các nguy cơ gây ô nhiễm, từ đó kiến nghị hướng giải quyết.
Phạm vi thực hiện của đề tài bao gồm toàn bộ hệ thống thủy nông Sông Nhuệ, hệ thống kênh tưới, tiêu, trạm bơm cấp và thoát nước. Quy mô khảo sát gồm hiện trạng ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt, cụ thể do công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và hoạt động sống của con người. - Báo cáo hiện trạng ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ, sông Đáy- Kiến nghị và các giải pháp phòng chống ô nhiễm do Viện quy hoạch thủy lợi lập năm 2006. Nội dung báo cáo Phân tích hiện trạng nước sông Nhuệ, đi tìm nguyên nhân gây ô nhiễm nước sông.
Theo nội dung của Báo cáo này, một số nguyên nhân chính gây ô nhiễm nước sông Nhuệ như sau: - Thiếu công trình xử lý nước thải; - Thiếu nước bổ sung vào sông; - Dùng thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi; - Nhận thức của nhân dân chưa được nâng cao. Một số kiến nghị về giải pháp chống ô nhiễm nước trong sông Nhuệ, cụ thể như: * Biện pháp thủy lợi: Nhìn chung, các phương án đều phụ thuộc vào nguồn nước sông Hồng để pha loãng (cấp vào sông Nhuệ, sông Đáy). Tuy nhiên chưa thể đánh giá được chất lượng nước sông Hồng. - Do thiếu số liệu tính toán nên chưa có đánh giá cụ thể, chi tiết, chỉ dựa trên kết quả khảo sát trên hệ thống.
Cụ thể dựa trên các điều kiện sau: 9 + Dựa trên tình hình ô nhiễm trên hệ thống; + Các công trình năm trên hệ thống; + Dựa trên số liệu phân tích đã có từ trước của hệ thống; + Dựa trên kinh nghiệm của chuyên gia; + Dựa trên mối tương quan chưa chặt chẽ giữa các thong số chất lượng nước quan trắc do ít vị trí quan trắc. *Một số kiến nghịvề giải pháp phòng chống ô nhiễm môi trường nước sông Nhuệ. - Khi bố trí khu công nghiệp, khu dân cư cần phải có nhà máy xử lý nước thải; - Hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học trong sản xuất nông nghiệp; - Tách vùng tiêu thẳng ra sông Hồng, sông Đáy, đặc biệt là tập trung tiêu thoát ra sông Hồng, hạn chế tiêu vào sông Nhuệ; đóng đập Thanh Liệt, chủ yếu tiêu thẳng ra sông Hồng qua trạm bơm Yên Sở 1, Yên sở 2. - Điều chỉnh quy trình vận hành Hồ Hòa Bình để nâng mực nước sông Hồng, làm cho nước cấp vào sông Nhuệ thuận lợi hơn; - Điều chỉnh quy trình vận hành hệ thống sông Nhuệ; - Đề tài phân tích nguyên nhân gây ô nhiễm,điềutra, khảo sát nhân dân sống trong lưu vực; đánh giá, lấy mẫu ở các khu vực có khả năng ô nhiễm cao như khu dân cư, cửa xả vào sông.
Phân tích thành phần các chất có trong nước; - Phân tích những ảnh hưởng của ô nhiễm tới dân sinh, xã hội; - Kiến nghị một số giải pháp làm giảm thiểu ô nhiễm; 1. Tổng quan về khu vực nghiên cứu. Hệ thống công trình thuỷ lợi sông Nhuệ được người Pháp xây dựng từ những năm 1930 của Thế kỷ 20 với nhiệm vụ tưới, tiêu kết hợp chống lũ 10 và phục vụ giao thông thủy. Hệ thống đi qua các huyện, quận Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Hà Đông, Thanh Trì, Thường Tín, Thanh Oai, Ứng Hòa, Phú Xuyên của Thành phố Hà Nội; các huyện Duy Tiên, Kim Bảng và Thành phố Phủ Lý thuộc Tỉnh Hà Nam.
Lưu vực sông Nhuệ có tọa độ địa lý: Kinh độ: 105034’02’’ ÷ 105057’16’’; Vĩ độ: 20032’37’’ ÷ 21005’08’’; Hệ thống thủy lợi sông Nhuệ nằm kẹp giữa sông Hồng, sông Đáy và sông Châu.Phía Đông và Bắc giáp sông Hồng, phía Tây giáp sông Đáy, phía Nam giáp sông Châu. Trục chính của hệ thống có chiều dài 113,6 km với 10 cống, đập, trong đó sông Nhuệ chảy gần như giữa hệ thống với chiều dài 74 km nối với sông Hồng qua cống Liên Mạc (Quận Bắc Từ Liêm - Thành phố Hà Nội) và nối với sông Đáy qua cống Lương Cổ (Thành phố Phủ Lý - Tỉnh Hà Nam).