Tổng quan nghiên cứu

Năm 2015, hoạt động chế biến xuất khẩu thủy sản tại tỉnh Thái Bình ghi nhận bước tăng trưởng ấn tượng khi trở thành ngành hàng xuất khẩu đứng thứ 3 toàn tỉnh với giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 10,7 triệu USD, chỉ xếp sau dệt may và gạo. Tốc độ tăng trưởng bình quân của lĩnh vực này trong giai đoạn 2010 - 2015 đạt 20,8%/năm, giải quyết việc làm ổn định cho gần 3.000 lao động địa phương. Mặc dù sở hữu 108 cơ sở chế biến tư nhân cùng 8 doanh nghiệp quy mô công nghiệp, ngành chế biến thủy sản của tỉnh vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng về tính bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái. Các cơ sở sơ chế, chế biến phân tán chủ yếu tại khu dân cư ven biển thuộc hai huyện Thái Thụy và Tiền Hải với trang thiết bị thô sơ, chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện an toàn thực phẩm và xả thải trực tiếp gây ô nhiễm nguồn nước mặt cũng như không khí.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Môi trường và Phát triển bền vững tập trung giải quyết mục tiêu trọng tâm: Đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động sản xuất và các vấn đề môi trường phát sinh tại các cơ sở chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh Thái Bình, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường khả thi phục vụ phát triển ngành bền vững. Phạm vi không gian nghiên cứu bao phủ địa bàn toàn tỉnh, trọng điểm là hai huyện ven biển Tiền Hải và Thái Thụy với chuỗi số liệu khảo sát trong giai đoạn 2010 - 2016. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học giúp giảm thiểu 50% tổn thất sau thu hoạch, gia tăng 20% giá trị sản phẩm thông qua tận dụng phụ phẩm, đồng thời giải quyết hài hòa xung đột giữa phát triển kinh tế biển và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng lý thuyết phát triển bền vững dựa trên mô hình ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường của nhà kinh tế Ed Barbier cùng định nghĩa chuẩn mực từ Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED). Để phân tích sâu sắc mối quan hệ tương hỗ giữa con người và hệ sinh thái ven biển, tác giả kết hợp mô hình phát triển bền vững hình quả trứng của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN 1997) và mô hình 4 trụ cột tích hợp thể chế chính sách từ Viện Wuppertal. Khung phân tích hoạt động chế biến thủy sản bền vững được mô hình hóa theo chu trình sản xuất 3 công đoạn khép kín gồm: đầu vào nguyên liệu, quy trình chế biến và đầu ra sản phẩm gắn kết chặt chẽ với sự điều tiết của thể chế. Bốn khái niệm học thuật cốt lõi được định nghĩa xuyên suốt gồm: Phát triển chế biến thủy sản bền vững, Giá trị gia tăng trong chuỗi sản phẩm, Tải lượng ô nhiễm môi trường và Sức tải sinh thái vùng duyên hải.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010 - 2015 thu thập từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thống kê tỉnh Thái Bình với nguồn dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa năm 2016. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 108 cơ sở chế biến hộ gia đình và 8 doanh nghiệp chế biến thủy sản hoạt động trên địa bàn. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu theo cụm và chọn mẫu chủ đích tại các địa bàn trọng điểm gồm thị trấn Diêm Điền, xã Thụy Hải, xã Thụy Xuân (huyện Thái Thụy) và xã Nam Thịnh (huyện Tiền Hải) nhằm bao quát đầy đủ các loại hình chế biến truyền thống lẫn công nghiệp hiện đại. Phương pháp phân tích ma trận SWOT được lựa chọn làm công cụ chủ đạo vì khả năng lượng hóa rõ nét điểm mạnh, điểm yếu nội tại cùng thời cơ, thách thức khách quan. Dữ liệu khảo sát từ 3 bộ mẫu phiếu điều tra chuẩn hóa được làm sạch và xử lý thống kê mô tả trên phần mềm Excel chuyên dụng, hỗ trợ dự báo chính xác nhu cầu tiêu thụ và phát thải đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô cơ sở chế biến mang tính phân tán cao khi các hộ kinh doanh cá thể chiếm 93,1% tổng số đơn vị (108/116 cơ sở), tập trung dày đặc tại thị trấn Diêm Điền (40 cơ sở) và xã Thụy Hải (32 cơ sở). Phần lớn các cơ sở này có công nghệ lạc hậu, thiếu mặt bằng xử lý chất thải, trong khi toàn tỉnh chỉ có 8 doanh nghiệp đầu tư dây chuyền hiện đại.

Thứ hai, chuỗi cung ứng nguyên liệu chế biến bộc lộ sự đứt gãy rõ rệt. Dù tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh năm 2015 đạt 182,9 nghìn tấn (khai thác 64,48 nghìn tấn, nuôi trồng vượt 100.000 tấn), chỉ có khoảng 20% đến 30% sản lượng khai thác hải sản được cung cấp cho các nhà máy nội tỉnh do tập quán bán ngay trên biển hoặc chuyển sang tỉnh ngoài.

Thứ ba, áp lực ô nhiễm môi trường từ chất thải lỏng và chất thải rắn ở mức báo động. Định mức nước thải trong chế biến đông lạnh dao động từ 20 đến 30 m3/tấn thành phẩm, trong chế biến đồ hộp lên tới 30 đến 50 m3/tấn. Đáng chú ý, 100% làng nghề chế biến thủy sản trên địa bàn chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, toàn bộ lượng nước thải chưa xử lý đều xả trực tiếp ra sông ngòi và vùng biển liền kề.

Thứ tư, cơ cấu sản phẩm chế biến có sự phân hóa mạnh mẽ. Điển hình là Nhà máy chế biến Bột cá Thụy Hải với công suất tiêu thụ 450 tấn cá nguyên liệu/ngày, sản xuất trên 4.000 tấn bột cá năm 2015 đạt doanh thu 120 tỷ đồng; mảng nuôi trồng ghi nhận sản lượng ngao đạt 72.000 tấn/năm (chiếm 60,8% sản lượng nuôi trồng), cung cấp nguyên liệu cho 2 công ty chế biến xuất khẩu lớn đạt doanh thu hàng trăm tỷ đồng sang thị trường châu Âu và châu Á.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản khiến ngành chế biến thủy sản Thái Bình phát triển chưa bền vững xuất phát từ việc quy hoạch thiếu đồng bộ, nguồn vốn đầu tư hạn hẹp và thói quen sản xuất nhỏ lẻ trong khu dân cư. Đúng như nhận định của các chuyên gia ngành nông nghiệp, phát triển thủy sản bền vững phải bảo đảm đồng thời cả ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. So sánh với các trung tâm thủy sản lớn như Hải Phòng hay Nam Định, Thái Bình có ưu thế lớn về vùng nuôi nhuyễn thể bãi triều nhưng lại yếu thế về tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao.

Về phương diện trực quan hóa, toàn bộ diễn biến kinh tế và môi trường có thể được thể hiện hiệu quả qua các công cụ đồ họa. Một biểu đồ cột kép sẽ minh họa rõ nét tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu 20,8%/năm song hành với biểu đồ tròn phân bổ 60,8% sản lượng ngao trong cơ cấu nuôi trồng. Đồng thời, một bảng số liệu so sánh phát thải chất thải rắn (dao động từ 0,7 đến 8 tấn/tấn sản phẩm đông lạnh) và biểu đồ quan trắc chất lượng nước mặt sẽ chứng minh mức độ vượt ngưỡng của COD, BOD5, dầu mỡ cũng như chỉ số Coliform (từng chạm ngưỡng 9,2 x 10^3 vi khuẩn/100ml trên sông Trà Lý theo chuẩn QCVN 08:2015/BTNMT).

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hiện thực hóa định hướng tại Quyết định 1445/QĐ-TTg và Quyết định 2760/QĐ-BNN-TCTS của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, quy hoạch phân vùng và di dời cơ sở chế biến: Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình chỉ đạo Sở Xây dựng cùng Ủy ban nhân dân hai huyện Thái Thụy, Tiền Hải hoàn thành việc di dời 100% cơ sở chế biến nhỏ lẻ trong khu dân cư vào các cụm công nghiệp tập trung như Thụy Tân, Cửa Lân trước năm 2025; bắt buộc đầu tư trạm xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường.

Thứ hai, đổi mới công nghệ và sản xuất sạch hơn: Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với các doanh nghiệp triển khai chuyển đổi công nghệ lạnh thân thiện môi trường (sử dụng môi chất R717 thay thế hoàn toàn R22 trước năm 2020); tận thu 100% phế phụ liệu đầu xương, vỏ giáp xác để sản xuất bột cá và chitin-chitosan, hướng tới mục tiêu giảm 50% tổn thất sau thu hoạch và nâng tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng thêm 20%.

Thứ ba, tăng cường thanh tra và quan trắc môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường thiết lập mạng lưới quan trắc tự động tại các cửa sông Diêm Điền, Trà Lý, Ba Lạt; yêu cầu 100% doanh nghiệp chế biến hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động môi trường và kiên quyết đình chỉ các cơ sở xả thải vượt quy chuẩn QCVN.

Thứ tư, đào tạo nhân lực và nâng cao nhận thức cộng đồng: Chi cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản tổ chức tập huấn định kỳ cho gần 3.000 lao động tại các cơ sở chế biến về vệ sinh an toàn thực phẩm, kỹ năng phân loại chất thải rắn tại nguồn và ý thức bảo vệ dải rừng ngập mặn phòng hộ ven biển.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình sử dụng công trình làm luận cứ xây dựng quy hoạch kinh tế biển và ban hành chính sách hỗ trợ di dời làng nghề.

Thứ hai, lãnh đạo 8 doanh nghiệp cùng chủ 108 cơ sở chế biến thủy sản tại Thái Bình tham khảo các giải pháp kỹ thuật về sản xuất sạch hơn, định mức kiểm soát nước thải và mô hình tận thu phế phụ liệu nhằm gia tăng biên lợi nhuận.

Thứ ba, các giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc khối ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Kinh tế Nông nghiệp khai thác phương pháp luận kết hợp ma trận SWOT và hệ thống phiếu khảo sát thực địa làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu.

Thứ tư, các tổ chức phát triển quốc tế và hiệp hội ngành nghề thủy sản sử dụng các số liệu thực chứng để xây dựng dự án hỗ trợ sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân dọc 54 km bờ biển tỉnh Thái Bình.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động chế biến thủy sản tại Thái Bình phát sinh những dạng chất thải chính nào? Chất thải lỏng là vấn đề nghiêm trọng nhất với định mức 20 đến 30 m3/tấn sản phẩm đông lạnh chứa hàm lượng hữu cơ cao và hóa chất tẩy rửa. Ngoài ra còn có chất thải rắn như đầu xương, nội tạng (0,7 đến 8 tấn/tấn sản phẩm) cùng khí thải gây mùi hôi tanh đặc trưng từ quá trình phân hủy hữu cơ.

Tại sao các cơ sở chế biến quy mô hộ gia đình ở Thái Bình lại khó xử lý chất thải triệt để? Phần lớn 108 cơ sở tư nhân nằm xen kẽ trong khu dân cư với diện tích mặt bằng hạn hẹp, vốn đầu tư thấp và thiếu kiến thức kỹ thuật xử lý môi trường. Thói quen sản xuất thủ công nhỏ lẻ khiến các hộ khó tiếp cận công nghệ hiện đại nếu không được di dời vào cụm công nghiệp.

Ngành chế biến thủy sản đóng góp như thế nào vào cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Bình? Chế biến xuất khẩu thủy sản giữ vị trí xuất khẩu thứ 3 toàn tỉnh với kim ngạch đạt 10,7 triệu USD năm 2015, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 20,8%/năm trong giai đoạn 2010 - 2015 và trực tiếp giải quyết việc làm cho gần 3.000 lao động địa phương.

Giải pháp tận dụng phụ phẩm thủy sản mang lại lợi ích gì về môi trường và kinh tế? Việc thu gom đầu cá, vỏ tôm, vỏ ngao để chế biến bột cá (công suất nhà máy đạt 450 tấn cá/ngày) hoặc chiết xuất hợp chất sinh học giúp loại bỏ hàng nghìn tấn chất thải rắn gây ô nhiễm, đồng thời tạo ra các dòng sản phẩm giá trị gia tăng cao, tối ưu hóa chuỗi sản xuất.

Cơ sở pháp lý nào làm nền tảng cho định hướng phát triển chế biến thủy sản bền vững tại địa phương? Chiến lược phát triển dựa trên Quyết định 1445/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch tổng thể ngành thủy sản đến 2020, tầm nhìn 2030 và Quyết định 2760/QĐ-BNN-TCTS của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Đề án tái cơ cấu ngành thủy sản nâng cao giá trị gia tăng.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phát triển chế biến thủy sản bền vững dựa trên sự cân bằng hài hòa giữa ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường.
  • Công trình phản ánh chân thực bức tranh thực trạng của 108 cơ sở tư nhân và 8 doanh nghiệp chế biến thủy sản tại hai huyện trọng điểm Tiền Hải và Thái Thụy giai đoạn 2010 - 2016.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các thách thức môi trường cấp bách khi 100% làng nghề chế biến thiếu trạm xử lý nước thải tập trung và lượng nước thải phát sinh lên tới 20 đến 30 m3/tấn thành phẩm.
  • Tác giả xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về quy hoạch cụm công nghiệp, công nghệ sản xuất sạch hơn, thanh tra quan trắc và đào tạo nguồn nhân lực gắn với lộ trình 2020 - 2025.
  • Đề tài đóng góp cơ sở dữ liệu khoa học quý giá giúp tỉnh Thái Bình duy trì tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản trên 20,8%/năm một cách xanh và bền vững.

Các cơ quan ban ngành, doanh nghiệp và cộng đồng cư dân ven biển hãy chung tay thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh, đầu tư công nghệ xử lý môi trường hiện đại để đưa ngành thủy sản Thái Bình bứt phá vươn xa!