Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Chương 2. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu - Chương 3. Kết quả nghiên cứu 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái niệm về phát triển bền vững 1. Khái niệm về phát triển bền vững quốc gia Phát triển bền vững được xem như một chiến lược phát triển, quản lý tất cả tài sản, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, cũng như các tài sản tài chính và vật chất để tăng dài hạn sự giàu có và hạnh phúc [15]. Năm 1987, nhà kinh tế Ed Barbier đưa ra một mô hình phát triển bền vững và nó trở thành cơ sở cho hầu hết các khái niệm về sau. Ông cho rằng phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột: phát triển xã hội, kinh tế và môi trường [15 ].
Trong khi tìm cách giải quyết vấn đề xung đột giữa môi trường và mục tiêu phát triển, Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) đã xây dựng một định nghĩa rằng phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được nhu của hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ [15]. Đến nay có rất nhiều khái niệm về phát triển bền vững nhưng đây là khái niệm thường xuyên được trích dẫn nhất và dường như đầy đủ hơn so với những khái niệm khác. Ở một cái nhìn khác, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN, 1997) khi bày tỏ quan điểm về phát triển bền vững đã đưa ra mô hình phát triển bền vững hình quả trứng. Đây là mô hình minh họa cho mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái giống như lòng đỏ một quả trứng gà.
Ngụ ý của mô hình này là con người trong hệ sinh thái, con người và hệ sinh thái phụ thuộc lẫn nhau. Cũng giống như một quả trứng là tốt chỉ khi cả hai màu trắng và lòng đỏ đều tốt. IUCN khẳng định, một xã hội tốt và bền vững chỉ khi cả hai con người và hệ sinh thái đều phát triển tốt Hình 1. Mô hình phát triển bền vững hình quả trứng [15] 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2000, Viện Wuppertal của Đức khi nghiên cứu về phát triển bền vững đã nhận định: Phát triển bền vững được cấu thành bởi bốn trụ cột là kinh tế, môi trường, xã hội và thể chế chính sách [14].
Theo quan điểm này, phát triển bền vững đòi hỏi phải tích hợp các mục tiêu khác nhau từ 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. Thể chế được xem như một đỉnh định danh không có chức năng như 3 đỉnh còn lại. Cũng chính điều này, khi mô hình này đưa ra đã bị chỉ trích, họ cho rằng đỉnh thể chế không đóng vai trò như 3 đỉnh còn lại nhưng vẫn được thể hiện tương tự nên dễ gây nhầm lẫn trong mô tả và phân tích [15]. Tuy có những tranh cãi về khái niệm phát triển bền vững nhưng khi thực hiện về cơ bản, tất cả đều đồng ý ba nhiệm vụ sau đây cho bất kỳ một quốc gia nào (Center for Environment Education, 2007): (i) Thúc đẩy hơn nữa phát triển kinh tế, trong khi vẫn đảm bảo tính bền vững sinh thái, bằng cách không vượt quá năng lực tải của Trái đất, và (iii) Mang lại công bằng xã hội, bằng cách tạo ra cân bằng phân phối tốt hơn các cơ hội để sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Khái niệm về phát triển thủy sản bền vững Phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững là quá trình phát triển đồng bộ, hợp lý, hài hoà giữa các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng và chế biến, dịch vụ thủy hải sản; có sự tăng trưởng kinh tế (TTKT) ngày càng cao và ổn định gắn liền với việc phát triển cơ sở hạ tầng xã hội, tạo việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao trình độ dân trí, văn minh của nhân dân; ổn định xã hội, an ninh, quốc phòng; bảo vệ nguồn lợi thủy hải sản; phòng chống thiên tai; cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường của địa phương, khu vực có hoạt động sản xuất kinh doanh thủy sản. - Phát triển bền vững về kinh tế Bền vững về kinh tế: bảo đảm phát triển kinh tế nhanh và duy trì tốc độ trong một thời gian dài. Ngành thủy sản được coi là phát triển bền vững phải đạt được các yêu cầu sau đây: có tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định; GDP/đầu người của ngành cao và thường xuyên tăng lên; có cơ cấu GDP hợp lý, các phân ngành, thành tố của GDP phải ổn định và phát triển để làm cho tổng GDP của ngành ổn định và 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tăng lên; tránh được sự suy thoái và đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ mai sau. - Phát triển bền vững về xã hội Xã hội bền vững là một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội, chính trị ổn định và quốc phòng an ninh được đảm bảo.
Đời sống vật chất, tinh thần của dân cư tham gia hoạt động thủy sản ngày càng nâng cao. - Bền vững về môi trường và tài nguyên thiên nhiên Bền vững về môi trường cần đảm bảo các chỉ tiêu, chức năng cơ bản là: + Bền vững về môi trường tự nhiên phải đảm bảo số lượng và chất lượng trong sạch về nguồn nước về lý hóa và sinh học, cảnh quan…Quá trình khai thác và sử dụng không được phép làm giảm số lượng và chất lượng của các yếu tố đó dưới giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. + Bền vững về môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động học tập của con người,…) không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. - Bền vững về tài nguyên thiên nhiên cần đảm bảo: + Đối với các loại tài nguyên tái tạo được, chỉ khai thác và sử dụng trong giới hạn những tài nguyên đó được khôi phục lại về số lượng và chất lượng do thiên nhiên tạo ra hoặc bằng phương pháp thay thế nhân tạo.
+ Các loại tài nguyên không tái tạo được, chỉ khai thác, sử dụng ít hơn, bằng số lượng và chất lượng do thiên nhiên tạo ra hoặc bằng phương pháp nhân tạo thay thế. Một số chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong phát triển thủy sản 1. Về kinh tế a) Các chỉ tiêu chung + Tốc độ tăng trưởng GDP thủy sản, + Đóng ghóp của ngành thủy sản vào tăng trưởng kinh tế: tỷ lệ GDP thủy sản/GDP (%). 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Các vấn đề về đầu tư cho thủy sản: Tỷ lệ đầu tư cho thủy sản/GDP (%); cơ cấu các nguồn vốn đầu tư phát triển thủy sản; hiệu suất sử dụng vốn (ICOR): Hệ số ICOR phản ánh để GDP tăng lên 1 đồng thì tiêu tốn bao nhiêu đồng vốn đầu tư.
b) Các chỉ tiêu cụ thể từng lĩnh vực - Lĩnh vực khai thác Các chỉ số về năng lực đánh bắt: số lượng tàu, công suất tàu, loại và số lượng ngư cụ dùng để khai thác, sản lượng đánh bắt, năng suất đánh bắt trên mỗi đơn vị khai thác, thành phần đánh bắt, số loài khai thác, ngư trường, cơ cấu nghề khai thác, hình thức tổ chức khai thác thủy sản… - Lĩnh vực nuôi trồng Các chỉ tiêu sử dụng diện tích đất đai, năng suất, sản lượng nuôi trồng thủy sản, các phương thức và mô hình nuôi trồng thủy sản. - Lĩnh vực chế biến, tiêu thụ, dịch vụ hậu cần nghề cá Các vấn đề về công nghệ chế biến, thị trường tiêu thụ, năng lực công nghệ của các cơ sở chế biến, hiện trạng dịch vụ hậu cần nghề cá (cảng biển, chợ thủy sản, nghề dịch vụ phụ trợ…) 1. Về xã hội Các vấn đề liên quan đến ngư dân như: số lượng ngư dân, học vấn của ngư dân, vốn của ngư dân và thu nhập của dân Các vấn đề xã hội nghề cá như: tình hình việc làm, chăm sóc sức khỏe, đời sống văn hóa tinh thần, bình đẳng giới…. Về sinh thái – môi trường Các chỉ số môi trường sinh thái như: tình hình trữ lượng nguồn lợi, rạn san hô, rừng ngập mặn, tình hình môi trường và đa dạng sinh học… Tình hình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thủy hải sản Tình hình dịch bệnh thủy sản 1.
Khái quát về phát triển chế biến thủy sản bền vững Chế biến thủy sản là một ngành sản xuất [17], phát triển bền vững (PTBV) của một ngành sản xuất nói chung được xem xét ở nguồn tài nguyên thiên nhiên sử dụng cho sản xuất, ý tưởng về thiết kế sản phẩm và xử lý chất thải từ các hoạt động 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản xuất. Ở mỗi công đoạn này phải đảm bảo PTBV ở ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. PTBV cho một chu trình sản xuất khép kín của một ngành sản xuất rất cần được xem xét ở nhiều công đoạn. Ở mỗi công đoạn trong quá trình sản xuất cũng cần được xem xét trên các trụ cột của sự PTBV nói trên.
Hình 1 dưới đây giới thiệu sơ đồ PTBV trong chế biến thủy sản. Hình 2: Sơ đồ PTBV của hoạt động chế biến thủy sản Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp (DN) ngành kinh tế thông thường được phân thành ba khâu: hoạt động đầu vào, sản xuất và đầu ra. Cả ba khâu hoạt động của DN trong ngành có liên quan mật thiết với các chủ thể tham gia ngành đó, từ đó hình thành các đặc trưng hoạt động của ngành. Chuỗi hoạt động của ngành CBTS cũng tương tự hoạt động của một ngành kinh tế thông thường, do đó cũng xem xét trên ba công đoạn đầu vào, sản xuất và đầu ra.
Cấu trúc của ngành CBTS được tổng kết như sau (Hình 2): Hình 3: Cấu trúc hoạt động của ngành CBTS 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với đặc trưng cấu trúc hoạt động của ngành CBTS, khung phân tích PTBV ngành CBTS được hình thành biểu hiện trên sự tương tác giữa trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường và thể chế giữ vai trò điều tiết. Tính bền vững của mỗi trụ cột được xem xét trên ba công đoạn hoạt động là: đầu vào - sản xuất - đầu ra (Hình 3). Hình 4: Tính bền vững của hoạt động Chế biến thủy sản 1. Tổng quan chế biến thủy sản bền vững trên thế giới và Việt Nam Hình 4.
Tính bền vững của hoạt động CBTS 1.