phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu Chƣơng 2: Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững 1. Một số khái niệm a. Khái niệm “du lịch” Khái niệm về “du lịch” đã xuất hiện từ rất lâu, những do tính chất, đặc điểm đa ngành, liên ngành, nên trong những hoàn cảnh khác nhau, dƣới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau mà mỗi ngƣời đƣa ra một định nghĩa khác nhau về du lịch.
Định nghĩa đầu tiên về du lịch xuất hiện năm 1811 tại Anh, trong đó “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình và mục đích giải trí. Ở đây giải trí là động cơ chính”. Theo Liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): “Du lịch đƣợc hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cƣ trú thƣờng xuyên cuả mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống. Tại hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại Roma - Italia ( 21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đƣa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờng xuyên cuả họ hay ngoài nƣớc họ với mục đích hoà bình.
Nơi họ đến lƣu trú không phải là nơi làm việc cuả họ” [69]. Năm 1991, OECD đã đƣa ra một khái niệm du lịch, trong đó “Du lịch có thể bao gồm các khách du lịch, hoặc những gì khách du lịch làm, hoặc các cơ quan mà phục vụ cho họ” [71]. Tƣơng tự nhƣ vậy, theo Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) (1995), Du lịch là “hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trƣờng sống thƣờng xuyên của con ngƣời không quá 1 năm liên tục và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến” [70, tr. Nhƣ vậy, theo khái niệm của WTO thì có 3 tiêu chí để xác định một chuyến du lịch, đó là: (1) có sự dịch chuyển bên ngoài môi trƣờng thông thƣờng; (2) mục đích của chuyến du lịch; và (3) thời gian thực hiện du lịch.
Sau đó, khái niệm về du lịch của WTO đã đƣợc mở rộng hơn, theo TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 đó, “Du lịch còn xem xét đến cả sự tiêu dung của khách du lịch, các đơn vị sản xuất cung cấp hàng hóa và dịch vụ đặc biệt cho khách du lịch, hoặc thậm chí đến một tập hợp các đơn vị pháp lý hay của khu vực địa lý có liên quan trong một cách này hay cách khác cho khách du lịch” [76]. Tại Việt Nam, khái niệm du lịch đã đƣợc đề cập trong nhiều văn bản pháp luật về du lịch. Trong Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam (20/02/1999), tại điều 10, thuật ngữ “Du lịch” đƣợc hiểu nhƣ sau: “Du lịch là hoạt động của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Trong Luật Du lịch Việt Nam ( 27/06/2005), du lịch đƣợc định nghĩa là “các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định.” Qua đó, có thể rút ra rằng: Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch.
Khái niệm phát triển bền vững - Khái niệm phát triển Khái niệm “phát triển” là một khái niệm còn khá mới, theo một số nhà khoa học xã hội thì khái niệm này chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX; cụ thể là những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Từ “phát triển” ba lần đƣợc sử dụng trong bản báo cáo gồm 14 điểm của tổng thống Mỹ Wilson, và trong các tài liệu của Hội Quốc liên năm 1919, khái niệm “phát triển” đƣợc sử dụng đi đôi với khái niệm “không phát triển”, “chậm phát triển” [42]. Một số nhà khoa học xã hội khác của phƣơng Tây cho rằng khái niệm “phát triển” bắt nguồn từ thuyết tiến hóa của Darwin, gắn với khái niệm tiến bộ đƣợc Condorcet nêu lên. Hiện nay, khái niệm “phát triển” vẫn tiếp tục là vấn đề tranh luận giữa các nhà nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách trên thế giới.
Một định nghĩa “sự phát triển” của Dudley Seers đƣợc chấp nhận rộng rãi. Theo đó, “Phát triển xảy ra với: việc giảm và xóa đói giảm nghèo, bất bình đẳng và tình trạng thất nghiệp trong một nền kinh tế đang phát triển” [72]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Tại Việt Nam, khái niệm “Phát triển” của tiến sĩ Vũ Đình Thanh đƣợc coi là một định nghĩa khá toàn diện: “Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ” [42]. Hiện nay, khái niệm “phát triển” không tồn tại nhƣ một khái niệm độc lập mà thƣờng gắn với các nội dung, các lĩnh vực nhƣ: Phát triển kInh tế, Phát triển xã hội, Phát triển con ngƣời, Phát triển bền vững… - Khái niệm phát triển bền vững Thuật ngữ “Phát triển bển vững” (Sustainable Development) đƣợc hình thành từ khái niệm “Tính bền vững” ra đời từ thập niên 70 của thế kỷ 20.
Đứng trƣớc bối cảnh khủng hoảng môi trƣờng xảy ra ở quy mô toàn cầu, mà nguyên nhân của nó là con ngƣời đã gây nên tình trạng mất cân bằng của hệ thống tự nhiên trong quá trình phát triển của mình, đặt nhân loại trên toàn thế giới hƣớng vào một phạm trù tƣ duy mới. Đứng đầu là hàng loạt những ý kiến, những bài viết của các học giả thuộc các ngành tự nhiên học, sinh thái học, môi trƣờng học, kinh tế học, khoa học xã hội và nhân văn… Các học giả đã nêu lên những lo ngại và những nguy cơ có liên quan đến sự tồn vong của loài ngƣời trong tƣơng lai đã làm xuất hiện chủ để: Làm thế nào để thế giới đƣợc “bền vững” hơn. Bằng các phƣơng pháp khác nhau, tất cả đều đã cố gắng trong việc tìm kiếm ý nghĩa và các hàm ý của “Tính bền vững” trong một khung cảnh toàn cầu. Thuật ngữ “phát triển bền vững” (PTBV) lần đầu tiên khuấy động các giới về Môi trƣờng và Phát triển quốc tế nhờ sự ra đời của xuất bản phẩm “Chiến lƣợc bảo tồn thế giới” của ba tổ chức IUCN, UNEP, WWF hợp tác xây dựng và công bố vào tháng 3/1980.
Đến năm 1987, thuật ngữ PTBV đƣợc phổ cập rộng rãi nhờ cuốn “Tƣơng lai chung của chúng ta” của Uỷ ban Brundland (Uỷ ban môi trƣờng và phát triển thế giới) xuất bản, nó đƣợc xem nhƣ một “báo cáo về thế giới” và nhanh chóng đƣợc lƣu hành rộng rãi. Bốn năm sau, năm 1991, uỷ ban này công bô một tài liệu khác mang tên “Chăm lo cho Trái TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 đất”, thuật ngữ PTBV và tính bền vững đƣợc mở rộng thêm: “Phát triển bền vững là sự phát triển nâng cao chất lƣợng đời sống con ngƣời trong lúc đang tồn tại, trong khuôn khổ đảm bảo của các hệ thống sinh thái. Tính bền vững là một đặc điểm đặc trƣng của một quá trình hoặc một trạng thái cố thể duy trì mãi mãi. Kể từ đây khái niệm về PTBV tiếp tục đƣợc nghiên cứu kỹ lƣỡng trong chƣơng trình nghị sự 21, là chƣơng trình hành động về PTBV chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21, đƣợc thông qua tại hội nghị về Môi trƣờng và Phát triển của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Rio de Janeiro năm 1992.
Hiện nay một trong những khái niệm “phát triển bền vững” đƣợc chấp nhận rộng rãi đó là khái niệm đƣợc sử dụng lần đầu tiên vào năm 1980, trong Chiến lƣợc bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chƣơng trình Môi trƣờng Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO: “Chiến lƣợc này dự đoán rằng phát triển bền vững cần phải tính đến những yếu tố xã hội và sinh thái cũng nhƣ những yếu tố kinh tế, cơ sở tài nguyên sinh học và không sinh học và cũng phải tính đến những lợi ích và phiền phức của những giải pháp thay thế ngắn hạn và dài hạn”[20]. Ngoài ra phải kể đến khái niệm “phát triển bền vững” trong báo cáo Brundtland năm 1987, theo đó: “Phát triển bền vững là sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của hiện tại mà không phƣơng hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên đƣợc tái tạo và tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con ngƣời, động và thực vật. Nhƣng ở một mức độ nào đó, nó cũng hàm chứa sự bình đẳng giữa những nƣớc giầu và nƣớc nghèo, và giữa các thế hệ.
Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững”. Sau này, quan niệm về phát triển bền vững đã đƣợc các nhà khoa học trên thế giới phát triển và bổ sung thêm.