CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ ĐA DẠNG SINH HỌC TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 1.1 Thế giới: Đa dạng sinh học có ý nghĩa lâu dài đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của nhân loại. Trên thế giới thuật ngữ đa dạng sinh học được Wilson dùng đầu tiên và năm 1988. “Đa dạng sinh học” nghĩa là tính biến dị giữa xác sinh vật sống từ tất cả các nguồn, trong đó bao gồm hệ sinh thái trên cạn, biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và là các phức hệ sinh thái, trong đó các sinh vật sống là một cấu thành; đa dạng sinh học bao gồm 3 cấp đa dạng về nguồn gen, loài và hệ sinh thái. Khái niệm đa dạng sinh học còn được các tổ chức trên thế giới khái niệm như sau, theo tổ chức WWF (1989) “đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất; là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật; là nguồn gen chứa đựng trong các loài và các hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”.
Công ước đa dạng sinh học (1992) khái niệm về đa dạng sinh học như sau“Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm đa dạng sinh học trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái”. Tuy nhiên bảo tồn như thế nào để mang lại hiệu quả thì đã được các nhà khoa học và các quốc gia trên thế giới rất quan tâm áp dụng từ đó thuật ngữ quản lý rừng dựa vào cộng đồng ra đời, vì quản lý bảo tồn rừng đặc biệt là rừng nhiệt đới chính là bảo tồn đa dạng sinh học. Tại Nê Pan, Subedi, 1991 [25] và cộng sự đã dựng phương pháp đánh giá nhanh (RRA) để nghiên cứu quản lý cây và đất đai tại hai cộng đồng nông LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thôn ở miền đông Terai (vùng thấp). Nghiên cứu được thiết kế nhằm góp sức vào việc phát triển lợi tức và công việc làm ăn thông qua dự án do cơ quan phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) và FAO tài trợ.
Nhiều vấn đề lý luận và thực tiển cộng đồng quản lý của thôn xã, tầm quan trọng của việc thu hút người dân sử dụng tài nguyên và những nhóm sử dụng trực tiếp tham gia vào việc phát triển, cách giải quyết vấn đề khan hiếm tài nguyên và công bằng xã hội được thảo luận. Tại Canada, Sherry, E.E 1999 [24] về sự hợp tác quản lý tại Vườn quốc gia Vutut, vừa là một Vườn quốc gia vừa là di sản văn hóa của của người thổ dân vùng Bắc cực. Liên minh chính quyền và thổ dân huy động được lực lượng người dân và kết hợp với ban quản lý làm thay đổi chiều hướng bảo tồn tự nhiên hoang dã và tăng các giá trị của vườn quốc gia. Hợp tác quản lý đã kết hợp được giữa các mối quan tâm và và kiến thức bản địa với mục tiêu bảo tồn.
Ban quản lý vườn giúp người dân về kỹ thuật xây dựng mô hình, về bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế xã hội. Hợp tác quản lý ở đây được đánh giá là rất thành công, theo tác giả thì nó được thiết kế để “kết hợp giữa sự tốt đẹp nhất của hai thế giới” nhà nước văn minh và thổ dân. Shuchenmann, 1999 [19] đã đưa ra một ví dụ ở Vườn quốc gia Andringitra, là vườn quốc gia thứ 14 của nước Cộng hòa Madagascar. Vườn quốc gia là một vùng núi có mối quan hệ giữa các hệ sinh thái và sinh cảnh, đa dạng sinh học và cảnh quan cũng như di tích văn hóa.
Chính phủ đã có nghị định bảo đảm quyền của người dân như: quyền chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi để sử dụng tại chổ, cho phép giữ gìn các điểm thờ cúng thần rừng. Để đạt được những quyền trên, người dân phải có trách nhiệm tham gia bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực. Ngoài ra, có nhiều bên liên quan tham gia trong Ban đồng quản lý như du lịch, chính quyền. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.A, 1999 [19] lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém hiệu quả của các chương trình quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa phương và lợi ích quốc gia, do đó chưa phát huy được nội lực của các cộng đồng để quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng.
Vì vậy, quản lý tài nguyên rừng cần phát triển theo hướng kết hợp hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thống nhất lợi ích của người dân và lợi ích Quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng. và McGean, Bo(eds), 1993 [22] trong báo cáo “liên minh cộng đồng: đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại vườn quốc gia Dong Yai nằm ở đông bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái Lan. Tại Dong Yai người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái và phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực. Tại Nam Sa cộng đồng người dân cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ.
Họ khẳng định nếu Chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực thì họ chắc chán sẽ thành công trong việc kiểm soát tài nguyên. Nick Salafky, 2000 [21] và các cộng sự cho rằng vào những năm của thập kỷ 90 thế kỷ trước, các nhà bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu về lợi ích kinh tế và bảo tồn. Những cách tiếp cận này dựa vào việc thực hiện các sinh kế độc lập và có mối liên hệ trực tiếp với bảo tồn. Đặc điểm cơ bản của cách tiếp cận này là mối quan hệ giữa đa dạng sinh học và con người xung quanh.
Người dân địa phương được hưởng lợi ích trực tiếp từ đa dạng sinh học và như vậy sẽ có thể hạn chế được các tác nhân gây hại từ bên ngoài đối với đa dạng sinh học. sự phát triển của đời sống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 người dân sẽ giúp cho việc bảo tồn đa dạng sinh học chứ không phải cạnh tranh với nhau. Hơn nữa chương trình này công nhận vai trò của người dân địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học, cũng trong chiến lược này các nhà bảo tồn có thể giúp người dân địa phương khai thác sử dụng hợp lý các loại lâm sản ngoài gỗ hoặc du lịch sinh thái. Chương trình hỗ trợ đa dạng sinh học (The biodiversity support program, BSP), 2000 [19] đã thực hiện nhiều dự án với mục tiêu nhằm đạt được tác động thật sự đối với bảo tồn.
Những nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra một số thành công của bảo tồn: (i)mục tiêu bảo tồn phải được đàm phán và nhất trí bởi tất cả các chủ thể hoặc đối tác có liên quan. (ii) các hoạt động bảo tồn phải xác định và hỗ trợ các lợi ích, nhu cầu của địa phương. (iii) nhận thức và kiến thức về bảo tồn đa dạng sinh học sẽ dẫn đến động lực, nhưng động lực không thì chưa đủ. để biến ý tưởng thành hành động thì con người phải có đầy đủ kỹ năng và năng lực cần thiết.
Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên hoang dã (WWF), 2001 [27] đã đưa ra một thông điệp chung rất đơn giản nhưng đầy đủ đó là “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến vấn đề xoá đói giảm nghèo như là một phần quan trọng của chính sách bảo tồn tài nguyên rừng”.2 Việt Nam Việt Nam được công nhận là trung tâm đặc hữu về loài, chứa đựng một phần hoặc toàn bộ trong 5 vùng chim đặc hữu (EBA) do Birdlife International xác định, 3 vùng sinh thái trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu do WWF xác định và 6 trung tâm đa dạng sinh học về thực vật do IUCN xác định. Toàn bộ đất nước Việt Nam nằm trong điểm nóng Inđô - Bơ Ma do tổ chức Bảo tồn Quốc tế xác định, là một trong những vùng sinh học đe dọa nhất và giàu có nhất trên trái đất [5]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Để góp phần vào bảo tồn đa dạng sinh học Chính phủ Việt Nam đã có những hành động tích cực trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học từ những năm 1960. Hiện nay đã có rất nhiều văn bản luật pháp và dưới luật có liên quan đến việc bảo tồn đa dạng sinh học được ban hành, nhiều dự án, chương trình lớn được thực hiện nhằm phát huy tích cực công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Đồng thời nhằm ngăn chặn việc khai thác sử dụng trái phép tài nguyên thiên nhiên ngày càng gia tăng do yêu cầu ở trong nước và xuất khẩu, tạo sự liên kết và hỗ trợ Quốc tế, Chính phủ Việt Nam cũng đã tham gia nhiều công ước liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học như công ước Ramsar (1988); Công ước di sản văn hóa thế giới (1987); công ước CITES (1994); công ước về đa dạng sinh học (1994); Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học năm (2004) và hiệp định Asean về bảo tồn thiên nhiên và các tài nguyên thiên nhiên (1985). Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Việt Nam, 1996 [13] Báo cáo kết quả dự án bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển nông thôn thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Chư Mom Ray đã kết luận bảo vệ tính đa dạng sinh học trước hết phải giảm sự phụ thuộc của người dân lên vùng được bảo vệ, đảm bảo được mức độ cao hơn về an toàn lương thực, gia tăng thu nhập hộ gia đình, xóa mù chữ, cải thiện vấn đề về sức khỏe, tạo các cơ hội giúp các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, bản địa phát triển các yếu tố truyền thống văn hóa. Bằng việc phát triển phúc lợi xã hội của các cộng đồng sống trong vùng đệm, khuyến khích các hoạt động phát triển nông nghiệp bền vững, phát triển cơ sở hạ tầng.